HỒ CHÍ MINH - BIÊN NIÊN TIỂU SỬ

TẬP 2 - Giai đoạn: 1930 - 9/1945

Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 2, giới thiệu những sự kiện cơ bản về những hoạt động sôi động, phong phú trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ đầu năm 1930, khi thành lập Đảng đến tháng 9-1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.

Với 400 sự kiện, tập sách phác hoạ theo trình tự thời gian những hoạt động của Người qua các thời kỳ:

- Thời kỳ thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam, thành lập chính đảng duy nhất của giai cấp vô sản và hoàn chỉnh dần đường lối cách mạng của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng;

- Thời kỳ bị bắt giam và xét xử tại Toà án tối cao Hồng Kông;

- Thời kỳ ở Liên Xô: học tập tại Trường Quốc tế Lênin, tham gia Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản và làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa;

- Thời kỳ trở lại hoạt động tại Trung Quốc, chắp nối liên lạc để về nước hoạt động;

- Thời kỳ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Trong thời kỳ này có hai giai đoạn Người sống ở nước ngoài, khi bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch giam giữ tại Quảng Tây và thời gian ngắn hoạt động ngoại giao tại Côn Minh.

Tập sách kết thúc bằng sự kiện trọng đại: Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Mười lăm năm ấy cũng là thời gian mà Người phải trải qua nhiều gian khổ và cả những đau khổ về thể chất lẫn tinh thần trong cuộc đấu tranh đầy gian truân và hy sinh to lớn của mình. Hai lần bị giam cầm trong xà lim và ngục tù của bọn đế quốc phản động, cả hai lần đều bị ốm nặng và có tin đã chết (!). Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng “tả” và hữu trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình. Bằng dũng khí và trí tuệ, với sự tế nhị khéo léo, với ý thức tổ chức, kỷ luật, Người đã phấn đấu quyết liệt và bền bỉ để Đảng, do Người sáng lập, đi đúng đường lối mà Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định và ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, mới mười lăm tuổi, Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập và đánh đổ chế độ quân chủ mười mấy thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà. Thật đúng là:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

Mười lăm năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình!”

MỤC LỤC:

LỜI GIỚI THIỆU:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

Mười lăm năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình!”

Nhưng cũng chính hoàn cảnh hoạt động bí mật cùng những năm tháng tù đày nói trên đã khiến cho việc sưu tầm tài liệu gốc về tiểu sử Nguyễn Ái Quốc thời kỳ này trở nên khó khăn. Tài liệu gốc cực kỳ hiếm hoi. Hơn nữa, việc lưu trữ quản lý những tài liệu gốc ở nước ta hiện nay còn khá phân tán và điều kiện tra cứu cũng rất hạn chế. Nhóm biên soạn mới chỉ được tiếp xúc một phần tư liệu về Nguyễn Ái Quốc tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin Liên Xô (trước đây). Một phần không nhỏ tài liệu quý khác về Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đang nằm tại nhiều cơ quan lưu trữ ở Nga, Trung Quốc và nhiều nước khác... đến nay Nhóm biên soạn vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc, khai thác.

Đã có một số hồi ký cách mạng của các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng, hoặc những bài viết dựa theo lời kể của những người đã từng được Bác dìu dắt khi hoạt động cách mạng, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Song, các hồi ký thường không đưa ra được ngày tháng cụ thể - điều hết sức quan trọng đối với biên niên tiểu sử - hơn nữa vì những lý do khác nhau, nhiều khi có những nhầm lẫn. Việc sử dụng các hồi ký vì thế cũng gặp không ít khó khăn.

Các sách chuyên khảo có giá trị khoa học của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng đã được khai thác ở mức độ cần thiết, lựa chọn hết sức thận trọng.

Việc sử dụng và khai thác nguồn tư liệu đã tuân thủ các nguyên tắc và quy định chung của bộ Biên niên tiểu sử được trình bày trong Lời giới thiệu chung. Khi vận dụng vào tập 2, Nhóm biên soạn đã bổ sung thêm một số chi tiết cụ thể:

1. Đối với các cuốn sách được tái bản nhiều lần có sửa chữa, thì sử dụng bản mới nhất. Đối với cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên, chúng tôi sử dụng bản tiếng Việt in năm 1994 và kết hợp sử dụng bản Trung văn Hồ Chí Minh truyện do Trương Niệm Thức dịch, xuất bản ở Thượng Hải tháng 6-1949. Về cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan thì sử dụng bản in năm 1994.

2. Khi sử dụng tài liệu theo sách của các nhà nghiên cứu nước ngoài, chúng tôi vừa ghi chú nơi lưu trữ tài liệu mà họ đã khai thác, vừa ghi rõ tác giả, tên sách.

3. Với một số sách, báo khác, dù độ tin cậy chưa cao, song cũng có một vài sự kiện đưa ra được những tư liệu mới, phù hợp với lôgíc hoạt động và cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc, thì Nhóm biên soạn đã xử lý, xác minh, chọn lọc để đưa vào tập 2 này.

Trong việc xác minh thời gian và địa điểm hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau khi Người về nước, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử có đối chiếu, so sánh để làm cho nguồn tư liệu được chính xác.

Lần xuất bản này đã bổ sung, sửa chữa nhiều sự kiện, đưa lên tổng số: 400 sự kiện, 21 chú thích 28 chỉ dẫn tên người. Chất lượng bản thảo cũng được nâng lên, khoảng trên 40% số sự kiện được sửa chữa, bổ sung về nội dung, làm cho nội dung sự kiện được phong phú, chính xác hơn. Tài liệu được bổ sung nhiều nhất là các thời kỳ Người hoạt động ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ Người bị giam tại Sở Cảnh sát Hồng Kông, nhà tù Víchtôria và trong thời gian xét xử tại Tòa án tối cao Hồng Kông. Hầu hết các năm đều có sự kiện bổ sung, sửa chữa, trong đó năm 1931 được bổ sung nhiều nhất, đưa tổng số sự kiện trong năm lên gần 30 sự kiện so với 12 sự kiện của lần xuất bản đầu tiên. Các sự kiện mới được bổ sung đều có nguồn tin cậy.

Trong quá trình xây dựng bản thảo, Nhóm biên soạn đã nhận được sự cộng tác nhiều mặt của các PGS, TS. Nguyễn Đình Lễ; PGS, TS. Nguyễn Ngọc Cơ; sự giúp đỡ về tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, Cục Lưu trữ Nhà nước và sự phối hợp, cộng tác có hiệu quả của nhiều cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Tỉnh uỷ các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Bắc Kạn...; của GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Hồ Song và các đồng chí Hoàng Tùng, Nguyễn Thành cùng nhiều học giả, nhà nghiên cứu khác đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích cho lần xuất bản thứ nhất. Nhóm biên soạn trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành.

Tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác biên soạn, song khó tránh khỏi những thiếu sót, chưa thể làm thoả mãn được yêu cầu cao của giới nghiên cứu, của đồng bào, đồng chí trong nước và bạn bè quốc tế.

Chúng tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành của các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu, cùng đông đảo bạn đọc gần xa để những lần xuất bản sau được tốt hơn.

* Năm 1930

NĂM 1930

Tháng 1, một buổi chiều ngày đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải (Trung Quốc) hẹn gặp Nguyễn Lương Bằng. Người dẫn đồng chí Bằng đi dạo quanh mấy phố, hỏi han về tình hình công nhân, binh lính, về chỗ ở và tình hình hoạt động của đồng chí Bằng, đã bị lộ chưa. Người căn dặn đồng chí Bằng: "Tôi ở đây chỉ vài ngày... Hôm nay chỉ cốt gặp nhau thôi, hẹn hôm sau nói chuyện lâu. Đồng chí công tác cố gắng đấy, nhưng phải cẩn thận. Nó đang khủng bố riết".

- Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 152.

Tháng 1, buổi sáng hôm sau

Theo lời hẹn, Nguyễn Ái Quốc gặp Nguyễn Lương Bằng tại một căn buồng thuê vào hạng rẻ tiền trong một khách sạn ở Thượng Hải. Người mời đồng chí Bằng ở lại ăn cơm để có thời gian trò chuyện. Người dặn đồng chí Bằng: "Hoạt động trong binh lính phải rất thận trọng. Anh em hăng nhưng trong tay sẵn có vũ khí thì dễ manh động".

- Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 153.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Nguyễn Lương Bằng, hẹn đến thư viện ở đường Nam Kinh. Cuối thư có câu: "Đến thư viện phải ăn mặc tươm tất, đi vào phải cho êm". Khi đến thư viện, đồng chí Bằng mới hiểu hết ý nghĩa dặn dò trong thư của Nguyễn Ái Quốc và được chỉ dẫn thêm: "Phong trào bây giờ lên khá cao, công việc của đồng chí thì nhiều, một mình làm không xuể. Phương tiện cũng ít ỏi. Muốn đẩy mạnh công tác, phải có sự giúp đỡ của Đảng anh em. Người cộng sản bất kỳ hoạt động ở nước nào cũng phải chịu sự lãnh đạo của Đảng ở đấy" 1).

- Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 153.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc liên lạc được với cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông và được sự giúp đỡ của các đồng chí Trung Quốc.

- Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 1, khoảng giữa tháng

Tại cơ quan bí mật của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc tiếp Nhiêu Vệ Hoa2).

Người thông báo về mục đích chuyến công tác là để thống nhất các tổ chức cộng sản của Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản.

- Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 1, cuối tháng

Tại nơi ở của mình, Nguyễn Ái Quốc tiếp Lý Phú Xuân và Thái Sướng đến thăm.

- Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 2, trước ngày 3

Tại nơi ở của mình, Nguyễn Ái Quốc tiếp Nhiêu Vệ Hoa và một nữ đồng chí3) của cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Đông, Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Nhiêu Vệ Hoa đã chúc mừng việc triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

- Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 2, từ ngày 3 đến ngày 7

Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam1.

Hội nghị được tiến hành từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 (từ ngày 5 đến ngày 9 tháng Giêng năm Canh Ngọ). Buổi đầu tổ chức tại một căn phòng của một công nhân nghèo, sau đó chuyển qua một số địa điểm khác ở Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc).

Đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, chi bộ của những người cộng sản Việt Nam ở nước ngoài, đã tham dự Hội nghị 4).

Hội nghị đã nhất trí với đề xuất của Nguyễn Ái Quốc về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua những văn kiện chính thức của Đảng - Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt...- do Người khởi thảo. Nội dung của các văn kiện này xác định cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng,v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý"; "Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v...) thì phải đánh đổ”, “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”, “phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”. Các văn kiện này là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 1-7.

- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 68.

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 4-5.

Tháng 2, khoảng từ ngày 5 đến ngày 8

Nguyễn Ái Quốc “đãi” các đại biểu một bữa cơm nhân dịp Tết Nguyên đán, vừa tiết kiệm vừa linh đình, nhân sự kiện thành lập Đảng.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 35.

Tháng 2, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông.

- Bản chụp Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, ngày 18-2-1930 (viết bằng tiếng Anh), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 17.

Tháng 2, ngày 18

Nhân sự kiện lịch sử thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản2 và Đảng Cộng sản Việt Nam viết Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột.

Mở đầu, Người viết:

“Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này”.

Sau khi tố cáo sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp, Người kêu gọi: “Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng” để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng, làm cho nước An Nam được độc lập, thành lập Chính phủ công - nông - binh,… đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân, thực hành giáo dục toàn dân, thực hiện nam nữ bình quyền.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Anh).

Báo cáo gồm các mục sau:

A/ Vài nét về hoạt động của Người trong năm 1928-1929 (những hoạt động với Việt kiều ở Xiêm).

B/ Công tác của Người ở Lào (tình hình Việt kiều).

C/ Đi về An Nam (hai lần cố gắng về nước song phải quay trở lại).

D/ Tới Trung Quốc (đến ngày 23-12-1929, triệu tập hai nhóm Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, họp vào ngày 6-1-1930, tiến hành hợp nhất và thành lập Đảng; các đại biểu về nước ngày 8-2-1930).

E/ Công tác của Trung ương mới (tổ chức các tổ chức quần chúng,...).

F/ Những lực lượng của chúng ta: 5 tổ chức chính trị ở Đông Dương: Đảng Lập hiến, Đảng Tân Việt, Quốc dân Đảng, Hội An Nam Thanh niên Cách mạng, Đảng Cộng sản.

G/ Phong trào đình công.

H/ Khủng bố trắng.

I/ Kinh tế và chính trị nói chung.

J/ Những kiến nghị (về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng bộ Xanhgapo, Đảng Cộng sản Trung Quốc).

K/ Một số vấn đề khác.

L/ Trong lời nhắn thêm, Người viết: "Tôi rời Hồng Kông vào ngày 13-2. Cho tới khi đó tôi không nhận được tin tức gì từ Pháp và hai đồng chí An Nam. Tôi rất lo lắng về họ" 5).

Sau báo cáo có kèm Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức, bóc lột. Cuối cùng là mấy dòng tái bút với chữ ký tắt N.A.Q.

- Bản chụp bút tích tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 11-18.

Tháng 2, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc viết một số bức thư.

Trong Thư gửi đại diện Tổng Công hội thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội, Người yêu cầu đồng chí đại diện “hỏi Đảng bộ về việc gửi các báo và tạp chí của Đảng cho chúng tôi… Đồng thời gửi cho chúng tôi một tờ báo tư sản của nước các đồng chí để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo chí cộng sản”.

Cuối thư, Người thay mặt Đảng Cộng sản Đông Dương, ghi địa chỉ của mình: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông.

Trong Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp), Người đề nghị xin cho Người một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế giới (Die Welt) - một tờ báo không mang cái tên “có tính chất lật đổ”, với “Tên của tôi sẽ là L.M. Vương” để có một nghề nói với người khác trong hoàn cảnh sống không hợp pháp.

Cuối thư, Người ghi địa chỉ “để gửi giấy chứng nhận”: ông Tiết Nguyệt Lâm, Hoa Phong công ty, số nhà 136, đường Wan Chai, Hồng Kông.

Trong Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp), Nguyễn Ái Quốc thông báo “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, yêu cầu “cho chúng tôi một tủ sách” và hướng dẫn cách gửi. Người đề nghị các đồng chí Pháp “cho chúng tôi biết tên những con tàu chạy đường Pháp - Viễn Đông trên đó có các đồng chí Pháp làm việc và cho chúng tôi biết tên các đồng chí đó để chúng tôi có thể bắt liên lạc với họ”, yêu cầu Trường đại học Phương Đông3 “không nhận các đại biểu hoặc học sinh An Nam nào không có sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Coi như bước đầu của sự hợp tác giữa hai Đảng, Người đề nghị “Đảng Cộng sản Pháp công bố một bức thư góp ý kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra lời kêu gọi lính Pháp ở Đông Dương”.

Trong thư có đoạn yêu cầu được làm rõ vị trí của Nguyễn Ái Quốc, thời hạn và vị trí mà Quốc tế Cộng sản giao cho Người hiện đã hết chưa: “Lúc này tôi chưa biết rõ vị trí của tôi. Tôi hiện là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp hay Đảng Cộng sản Việt Nam? Cho đến khi có lệnh mới, tôi vẫn phải chỉ đạo công việc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng với danh nghĩa gì? Tôi không tham gia Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vì tôi chưa trở về Đông Dương được, nhất là lúc này, chúng đã ban cho tôi một cái án tử hình vắng mặt. Sự uỷ nhiệm công tác của Quốc tế Cộng sản cho tôi đã hết hạn chưa?… Tôi đề nghị các đồng chí nhắc Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản cho quyết định về việc này”.

Cuối thư, Người đề nghị các đồng chí Pháp công bố trên báo LHumanité và tập san Inprekorr Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và thông báo địa chỉ gửi thư: Gửi cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đề trên phong bì: Ông Vícto Lơbông, 123 - Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp. Về sách báo thì gửi theo địa chỉ: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông. Thư cũng đặt các vấn đề vị trí của Nguyễn Ái Quốc lúc này - đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, hay Việt Nam, danh nghĩa chỉ đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, thời hạn uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản đối với Nguyễn Ái Quốc đã hết chưa...

Trong Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ, Người đề nghị gửi báo và tạp chí của Đảng và một tờ báo tư sản “để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo Đảng".

Trong Thư gửi đồng chí Sôta 6). Liên đoàn chống đế quốc - Béclin, Nguyễn Ái Quốc báo tin: “Tôi đang ở Trung Quốc”, “Đảng đã được thành lập ở Đông Dương” và đề nghị đồng chí Sôta gửi cho Người Điều lệ, Cương lĩnh, tài liệu của Liên đoàn (chống đế quốc), đồng thời cũng thông báo sẽ gửi cho đồng chí những phong bì để đề nghị đồng chí chuyển cho báo Gudok (Tiếng còi), Pravda (Sự thật), Inprekorr(Thư tín quốc tế) theo các ký hiệu trên phong bì.

Cuối thư, Người “Gửi tới đồng chí và Anna những kỷ niệm cách mạng thân mến”, ký tên: Pôn.

Thư gửi Quốc tế Công hội đỏ (viết bằng tiếng Anh), ký tên Nguyễn Ái Quốc, có nội dung và địa chỉ giống bức thư thứ nhất.

Trong Thư gửi Văn phòng Đảng Cộng sản Mỹ ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Anh), Nguyễn Ái Quốc yêu cầu gửi sách báo, tài liệu của Đảng Cộng sản Mỹ tới Hồng Kông để sử dụng trong công tác tuyên truyền. Địa chỉ ở cuối thư cũng ghi như bức thư trên.

- Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 19-26.

Tháng 2, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp).

Nguyễn Ái Quốc đề nghị gửi cho Người báo La Vie Ouvrière (Đời sống công nhân) và tạp chí của Quốc tế Công hội đỏ, đồng thời gửi cho Người bất kỳ một tờ báo tư sản nào để “chối cãi nếu cảnh sát thấy rằng chúng tôi nhận các báo chí “lật đổ””.

Cuối thư, Người viết: gửi "Lời chào cộng sản thân ái. Thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam (Đông Dương)”. Ký tên Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ như sau:

Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi các đồng chí Liên Xô nói ý định giới thiệu về nước Nga cho những người Việt Nam chỉ biết tiếng Việt một quyển sách có tên "Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi" một cách “sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện”. Người nêu Đề cương cuốn sách, gồm các phần: I. Trước cách mạng; II. Trong cuộc cách mạng; III. Ngày nay. Người yêu cầu cung cấp tài liệu theo địa chỉ "Gửi ông Vícto Lơbông, 123 - Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp", với câu ghi: “Nhờ chuyển ngay tức khắc”.

- Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 30; 27-29.

- Bút tích tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông (Quốc tế Cộng sản) báo cáo về tình hình Mã Lai, Đông Dương; về việc gửi ba học sinh đi học; hỏi ý kiến của Ban Phương Đông về “đề nghị của tôi xin chuyển” và cho biết là “không đọc ra những con số, số kép hay số đơn, tiếng Pháp hay tiếng Anh” và “cho tôi biết lại mã chữ khoá”.

Cuối thư, Người đề nghị “có thể mua hối phiếu của công ty xe lửa tốc hành Mỹ đề tên T.V. Wang và gửi bưu điện cho tôi”, “giao các sốInprekorr cho người bạn tôi”, và nhắc lại việc liên hệ với công ty hàng hải Pháp để liên lạc về Đông Dương...

Cùng ngày, Người còn viết thư (bằng tiếng Pháp) báo cáo với Quốc tế Cộng sản về việc Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam; một Ban Chấp hành lâm thời đã được bầu và thông báo về tình hình cuộc bạo động Yên Bái nổ ra ngày 9-24.

Cùng ngày, Người còn viết thư gửi Lê Hồng Phong thông báo: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã cử Ban Chấp hành lâm thời để phụ trách công việc. Đảng bao gồm trên 500 đồng chí với hơn 40 chi bộ, hơn 3000 quần chúng...

- Bản chụp các bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử Đảng.

- Tạp chí Xưa và Nay, số 31, tháng 9-1996, tr. 33.

Tháng 3, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam (bằng tiếng Anh).

Báo cáo trình bày những phong trào yêu nước từ khi đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam cho đến khi thành lập Đảng. Trước năm 1905, phong trào là “một sự hỗn hợp giữa chủ nghĩa phản đế, chống công giáo và Cần vương". Từ năm 1905, thắng lợi của Nhật đối với Nga, ảnh hưởng của “nền văn học cải lương Trung Hoa”, đã đưa “tinh thần dân tộc An Nam lên cao độ”, tiếp đó là cuộc Đông du. Năm 1908, một cuộc bãi công của nông dân nổ ra trong toàn quốc - “cuộc bạo động của những anh em tóc ngắn” - bị khủng bố. Năm 1910, xảy ra “cuộc đầu độc" binh lính Pháp ở Hà Nội. Tiếp đó là các cuộc bạo động Thái Nguyên, khởi nghĩa Duy Tân, việc mưu sát Toàn quyền Méclanh, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, sự ra đời, hoạt động và chia rẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Phong trào cách mạng phát triển rầm rộ và bị đế quốc thực dân Pháp khủng bố và “ngày nay các nhóm cộng sản đã thống nhất vào một đảng, hoạt động nhất định sẽ tốt hơn trước nhiều". Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo mạnh mẽ sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa, ca ngợi tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân và chỉ ra một số thiếu sót của các tổ chức yêu nước, kể cả các tổ chức cộng sản.

Cuối tài liệu, Người khẳng định: “Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng với kinh nghiệm và lòng hy sinh, với quần chúng ở bên cạnh, những người cộng sản nhất định sẽ chiến thắng”.

- Bản chụp bút tích tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 31-38.

Tháng 4, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi đồng chí ZAO 7) và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô.

Sau khi thông báo “trong nước bây giờ đã có Đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”, Người báo tin sẽ có các đại biểu là công nhân sang Liên Xô dự Đại hội Quốc tế Lao động. Người yêu cầu đồng chí ZAO “phụ trách phần dịch cho các đại biểu đó” và gợi ý những việc phải làm để giúp các đại biểu hoàn thành nhiệm vụ.

Người còn căn dặn: “Tất cả anh em học sinh, nhất là người phụ trách, đối với đại biểu lao động phải tỏ tình rất thân mật. Chớ để người ta trông thấy sự phân biệt trí thức và vô sản"8). Người yêu cầu: “làm sao cho anh em đại biểu hiểu, hăng hái, và yêu mến Xô-Nga, lại có cảm tình với anh em lao động các nước". Và nhắc lại sau Đại hội phải gửi thư về báo cáo qua Ban Phương Đông.

- Bản chụp bút tích tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 39-40.

Tháng 4, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Quốc tế Cộng sản báo cáo tình hình về những ngày đầu đến Xiêm, về việc lập Hội Thân ái,... Phần lớn báo cáo nói về việc hợp nhất Đảng, xây dựng cương lĩnh, vấn đề chiến lược, chiến thuật theo đường lối của Quốc tế Cộng sản, về việc lập ra một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời gồm bảy người chính thức và bảy người dự khuyết...

- Hồ sơ lưu trữ Quốc tế Cộng sản, ký hiệu 495, 154, 612.

- Bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Đông - Bắc nước Xiêm (ngày nay là Thái Lan). Người báo tin cho một số đồng chí ở đây biết các nhóm cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây Người còn làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao.

- Lê Mạnh Trinh: Những ngày ở Quảng Châu, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 96.

Tháng 4, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Malaixia làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao.

- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Khoảng tháng 4

Tại Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc gặp đồng chí Trần Phú từ Liên Xô trở lại Trung Quốc. Người thông báo cho đồng chí Trần Phú về việc hợp nhất Đảng tháng 2-1930 và đã báo cáo với Chi nhánh Ban Phương Đông ở Thượng Hải, các đồng chí đã nhất trí. Sau đó, phân công đồng chí Trần Phú về Bắc, còn đồng chí Ngô Đức Trì về Sài Gòn.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 49.

- Lời khai của Ngô Đức Trì. Tài liệu đánh máy của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh. Bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh, tr. 18-19.

Tháng 5, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Xinhgapo.

- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Tháng 5, cuối tháng

Từ Xinhgapo, Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Kông.

- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Khoảng tháng 7, tháng 8

Tại Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc tham dự một cuộc họp có mặt các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Đỗ Ngọc Du (Phiếm Chu), Lưu Quốc Long để góp ý về công tác vận động binh lính.

Người căn dặn: “Không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày chung chung. Không nên nói vô sản một cách cứng nhắc. Trước mắt chúng ta là phải đánh đổ thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Cho nên, phải khơi lòng yêu nước của mọi người. Đối với anh em binh lính, ta nên khêu gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, rồi chuyển sang khêu gợi lòng yêu nước, thương nòi. Như thế, mới đi vào lòng người ta được”.

Xem những số báo Kèn gọi lính, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở các đồng chí tại cuộc họp: Không nên dùng chữ khó hiểu, phải viết ngắn, gọn, rõ ràng. Sau đó, Người viết mấy bài cho báo với nội dung yêu nước, ghét thống trị Pháp dưới hình thức văn vần, văn xuôi rất ngắn gọn và dễ hiểu.

- Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 154-155.

Tháng 9, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương, nêu các sự kiện chi tiết về cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân chống đế quốc Pháp ngày càng trở nên quyết liệt. Người không chỉ tố cáo tội ác của đế quốc Pháp đàn áp dã man các cuộc đấu tranh mà còn âm mưu “chuẩn bị tấn công Liên Xô, tấn công cách mạng Trung Quốc và chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc trên Thái Bình Dương”. Người kêu gọi công nhân, nông dân toàn thế giới giúp đỡ công nhân, nông dân Đông Dương.

- Tài liệu đánh máy tiếng Nga, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 41-50.

Tháng 9, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, báo cáo về những cuộc đấu tranh từ ngày 11 đến ngày 17-9 của nông dân Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An.

Người khẩn thiết yêu cầu “các đồng chí làm những việc có thể được để giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu”.

Trong thư, Người cho biết: "Ba uỷ viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây - ngày 19-9, chờ các đồng chí từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới" để dự Hội nghị Trung ương vào tháng sau.

Cuối thư, Người báo “đã viết thư sang Xiêm và Mã Lai khoảng một tháng trước đây, nhưng chưa nhận được trả lời”.

Ký tên: Vícto

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 51-52.

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, tr. 81-82.

Tháng 11, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Quốc tế Nông dân (bằng tiếng Pháp) báo cáo về phong trào nông dân từ tháng 5 đến tháng 10-1930 ở bảy tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho và hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh: “Mặc dầu bị đàn áp dã man, phong trào vẫn tiếp tục phát triển”, "ở một số làng đỏ, Xôviết nông dân đã được thành lập”.

Cuối thư, Người yêu cầu “Quốc tế Nông dân có thể giúp đỡ gấp cho các nạn nhân bị khủng bố...”.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 53-54.

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 223-224.

Tháng 12, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông báo tin “Một đại biểu Đảng Mã Lai đã đến đây hôm qua, 30-12-1930”, và cho biết “Hai đồng chí Việt Nam phụ trách liên lạc đã bị bắt ngày 11-12-1930, 11 đồng chí bị trục xuất khỏi Xiêm mới đến”, “hai đại biểu và một học sinh đã về đây ngày 31-12-1930, một người đã trở lại làm việc cũ”, “liên lạc của chúng ta đã bắt đầu tổ chức lại”...

Cuối thư, Người viết: “Tôi gửi cho các đồng chí một bài báo viết về Việt Nam”... và “rất nhiều bài khác nhưng không thấy một bài nào đăng ở Inprekorr...”

- Bản chụp bút tích bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối năm

Tác phẩm Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Việt Nam, được bí mật truyền tay đọc trong đảng viên và quần chúng 9).

- Nguyễn Duy Trinh: Con đường cách mạng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1970, tr. 73.

--------------------------

1) Sau đó ít ngày, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được gặp đồng chí Thái Sướng - một cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc; đồng chí Thái Sướng lại giới thiệu đồng chí Nguyễn Lương Bằng với một Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, phụ trách công tác vận động binh lính ngoại quốc của Đảng. Từ đó, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí cùng hoạt động được các đồng chí Trung Quốc giúp đỡ tận tâm, như cung cấp cho bàn, dũa, giấy nến, bút thép, giúp việc ấn loát, phân phát báo Kèn gọi lính (do nhóm đồng chí Nguyễn Lương Bằng viết) vào các trại lính Việt Nam...(B.T).

2) Nhiêu Vệ Hoa, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc này công tác ở cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Đông, là người được cử tới giúp đỡ Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiêu Vệ Hoa và Nguyễn Ái Quốc đã quen biết nhau khi Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Quảng Châu những năm 20 của thế kỷ XX (B.T).

3) Bấy giờ ở Hồng Kông, chỉ những người có gia đình mới dễ thuê nhà. Nữ đồng chí này được bố trí đóng vai người nhà của Nguyễn Ái Quốc, giúp Người thuê nhà để sắp xếp chỗ ở cho các đại biểu Việt Nam từ trong nước ra (B.T).

4) Các đại biểu có mặt tại Hội nghị hợp nhất là: Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Đức Cảnh và Trịnh Đình Cửu (Đông Dương Cộng sản Đảng), Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu (An Nam Cộng sản Đảng), Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn (hai cán bộ hoạt động ở nước ngoài. Có tài liệu cho rằng hai đồng chí này chỉ giúp chuẩn bị Hội nghị chứ không dự Hội nghị - T.G). Đông Dương Cộng sản liên đoàn mới thành lập nên chưa kịp cử đại biểu dự Hội nghị này (B.T).

5) Ý nói về hai đồng chí Trần Phú, Ngô Đức Trì về nước đầu tháng 11-1929, qua đường Pháp: đến nay đã giữa tháng 2-1930 mà chưa có tin tức gì (B.T).

6) Các tài liệu trước đây đều ghi là Satô, nay theo bản chụp bút tích (nguyên văn Chota), nên sửa lại là Sôta (B.T).

7) Đồng chí Zao: đồng chí Bùi Công Trừng, thường được gọi là Giáo vì trước khi xuất dương có làm nghề dạy học (B.T).

8) Nguyên bản viết bằng tiếng Pháp (viết tắt): intellect và prolet (B.T).

9) Nhật ký chìm tàu: Tác phẩm được hoàn thành trên cơ sở vốn sống thực tiễn của Người trên đất nước Nga Xôviết, kết hợp với những tư liệu từ Liên Xô gửi đến, và trực tiếp trao đổi với một số cán bộ của phái đoàn M. Bôrôđin trong thời gian Người ở Quảng Châu.

Nhật ký chìm tàu kể chuyện ba thuỷ thủ: Pôn (người Âu), Zô (người Phi), và Râu (người Việt) sống sót sau vụ tàu buôn Pháp đắm, được tàu Liên Xô cứu, đưa về Liên Xô.

Trong thời gian ở Liên Xô, ba anh được đối xử tử tế, đi thăm nhiều nơi, được Đảng Cộng sản Liên Xô tạo điều kiện cho học tập văn hoá, chính trị và tìm cách để họ trở về Tổ quốc.

Nhật ký chìm tàu ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 24 chương, khoảng 100 trang giấy rơm, khổ 22 x 18cm, viết chữ thường bằng bút sắt, in litô, giấy một mặt. Mỗi chương mở đầu bằng hai câu lục bát và phần kết cũng bằng hai câu lục bát:

... Không bột mà gột nên hồ,

Tay không xốc nổi cơ đồ, cừ không!

Cho đến nay, nguyên bản Nhật ký chìm tàu chưa tìm lại được (B.T).


* Năm 1931

NĂM 1931

Tháng 1, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương (bằng tiếng Anh), ký tên Vícto. Bài viết tổng kết tình hình năm 1930 bằng những số liệu cụ thể, trong đó Người thống kê, phân tích, phân loại các cuộc đấu tranh liên tiếp của các tầng lớp nông dân, công nhân, học sinh, phụ nữ... Đông Dương.

Người tố cáo những tội ác của đế quốc Pháp trong "Khủng bố trắng" như: bắt giết hàng loạt người, đốt phá, huỷ diệt nhiều làng mạc và cả những thủ đoạn gây hỏa hoạn, bỏ thuốc độc xuống giếng nước để khủng bố những địa phương có phong trào cách mạng.

Người kết luận:

“Tình hình Đông Dương là như thế.

Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới - đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp - là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!”.

- Bản chụp bút tích, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 55-60.

Tháng 1, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc gửi thư báo cáo Quốc tế Cộng sản về việc đón nhận 11 đồng chí bị Chính phủ Xiêm trục xuất về Sơn Đầu (Trung Quốc), việc bồi dưỡng sức khoẻ, huấn luyện thêm về chính trị và giao công tác cho họ.

Người viết:

“Tôi là người chịu trách nhiệm ở đây, nên không thể để mặc họ chết đói hoặc chết rét...”.

- Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 2, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Phương Đông về một số vấn đề.

- “Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ” (10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em, đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động).

- “Số 2. Ở Nhà máy xi măng Hải Phòng” (3.000 công nhân Nhà máy xi măng đã bãi công và đấu tranh).

- “Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ” về củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt, bổ sung cán bộ, tuyên truyền về việc thay đổi tên Đảng, tổ chức Công hội...

- “Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội”.

- Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 61- 63.

Tháng 2, ngày 12

Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông dưới hình thức trao đổi giữa một khách hàng với một công ty. Trong thư có đoạn: “Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

... Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ăn Tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải...

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến”.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 64.

Tháng 2, ngày 16

Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết tiếp Thư gửi Ban Phương Đông, dưới hình thức trao đổi của một khách hàng với một công ty buôn bán. Trong thư có đoạn:

“Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương...”

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 65.

Tháng 2, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc viết bài Nghệ Tĩnh đỏ (bằng tiếng Pháp), ký tên V. Bài viết có ba phần, đánh dấu I, II, III.

Phần I, giới thiệu sơ qua về tình hình địa lý, nhân văn, kinh tế và truyền thống cách mạng của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Kết thúc phần I, Người viết: "Nghệ - Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ”"!

Phần II, trình bày những hình thức đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ - Tĩnh những ngày cuối năm 1930 đầu năm 1931, đặc biệt là cuộc lễ “đỏ” tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 km.

Phần III, vạch rõ những thủ đoạn nham hiểm của đế quốc Pháp trong việc bắt ép nhân dân tham gia các cuộc biểu tình phản cách mạng nhằm lừa bịp dư luận.

Cùng ngày, Người viết bài Khủng bố trắng ở Đông Dương, ký tên V., trình bày việc đế quốc Pháp bắt giam, xử án những người hoạt động cách mạng ở Thái Bình, Hà Nội, Nam Định và thái độ hiên ngang, dũng cảm của họ trước phiên toà.

- Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 70-72; 66-69.

Tháng 2, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông, ký tên K. Trong thư Người thông báo tin Lý Tự Trọng bắn chết tên mật thám Lơ Grăng và đã bị bắt. Người viết: “Đồng chí thanh niên chắc chắn sẽ bị chúng xử bắn” và yêu cầu Ban Phương Đông liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp “tổ chức biểu tình đòi thả đồng chí ấy ra”.

Người còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội đỏ lên tiếng đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.

Cuối thư, Người yêu cầu Ban Phương Đông “chuyển tôi về Thượng Hải” và “Hỏi Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp xem có đồng chí ở trên các tàu của Công ty hàng hải không” để liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp và Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp.

- Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 5

Với bí danh Quac. E. Wan, Nguyễn Ái Quốc viết bài Uy quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản, tố cáo sự khủng bố dã man của đế quốc Pháp đối với nhân dân Đông Dương, ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân và khẳng định: “tinh thần đó sẽ đưa cách mạng đến thành công”, “không có lưỡi lê, bom đạn và súng máy nào có thể dập tắt được tinh thần đó”.

- Bản chụp tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Trong thư, Người phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc trong “Cách khai hội”, “Cách thảo luận”, trong “Vấn đề công tác”, “Vấn đề tên Đảng”, “Lực lượng của Đảng”.

Người đề nghị Đảng phải sửa chữa những thiếu sót đó, phải có chương trình hành động cụ thể cho từng huyện và từng tỉnh, cho mỗi đồng chí trong mỗi tổ chức, và yêu cầu “Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương”.

Thư có kèm theo một bảng thống kê số lượng đảng viên, chi bộ, thanh niên, công hội, nông hội, phụ nữ trong 13 tỉnh và huyện. Qua bảng thống kê này, Người chỉ ra “năm nơi có Nông hội rất yếu”, ở Trung (tức Trung Kỳ - B.T) chưa có chỗ nào tổ chức được công nhân nông nghiệp, ở Bắc (tức Bắc Kỳ - B.T) “chỉ có hai tỉnh là có Công hội”...

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 73-76.

Tháng 4, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (đầu thư đề ngày 23-4-1931, cuối thư đề ngày 24-4-1931 và không ký tên người viết).

Trong thư, Người thông báo về những cán bộ được cử về nước theo đường dây liên lạc, nhắc nhở công tác bảo vệ Đảng, giữ gìn bí mật, duy trì chế độ báo cáo giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và đề nghị Trung ương ghi nhận nhiệm vụ của mình đã được Ban Phương Đông xác định.

Kèm theo thư là một “miếng giấy nhỏ” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Quốc tế5.

- Ảnh bút tích tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 77-80.

Tháng 6, ngày 6

Sáng sớm, Nguyễn Ái Quốc - tên trong thẻ căn cước là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Hồng Kông, dưới sự chỉ đạo của thanh tra cảnh sát Carây (A.E. Carey) bất ngờ vây bắt tại ngôi nhà số 168, đường Tam Lung 1), Cửu Long mà không có lệnh bắt. Cùng bị bắt với Nguyễn Ái Quốc còn có Lý Phương Thuận (Lý Sâm). Cảnh sát thu được một số giấy tờ do Người ghi những địa danh mà cảnh sát Anh và mật thám Pháp không xác định được.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 37-38.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 67 - 68.

- Tự thuật của Lý Phương Thuận ngày 8-9-1969. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, từ ngày 6 đến ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị giam trong nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông. Được một người Việt Nam báo tin Người bị bắt và nhờ giúp đỡ, F.H.Lôdơbi (Francis Henry Loseby) 2) một luật sư người Anh đến thăm Người. Khi Nguyễn Ái Quốc nói không có tiền để nhờ cãi, ông Lôdơbi đã hứa sẽ giúp “vì danh dự chứ không nhất thiết vì tiền”.

Người đã cung cấp những thông tin cần thiết cho luật sư và cùng luật sư thống nhất về phương hướng bào chữa.

- Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 106.

- Lời kể của luật sư Lôdơbi, Trịnh Ngọc Thái ghi.

Tháng 6, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ nhất).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.

Tháng 6, từ ngày 12 đến ngày 18

Nguyễn Ái Quốc bị đưa từ Nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông đến giam tại ngục Víchtôria.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.

Tháng 6, ngày 15

Nhiều tài liệu do Nguyễn Ái Quốc viết bị cảnh sát tìm thấy ở Văn phòng của Hile Nulen (Hilaire Noulens) - Thư ký Chi nhánh Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản khi ông này bị bắt ở Thượng Hải.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 6, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc được luật sư người Anh F.H. Lôdơbi đến gặp tại ngục Víchtôria.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 263-271, 279.

Tháng 6, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ hai).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ ba).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ nhất.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ hai.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ ba.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.

Tháng 7, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ tư).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.

Tháng 7, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử -Phiên toà thứ nhất. Tại toà, luật sư Ph. C. Gienkin (F.C. Jenkin) theo sự uỷ nhiệm của luật sư Lôdơbi (F.H. Loseby), thuộc "Văn phòng luật sư Rớtxơ" (Russ & Co) thay mặt Nguyễn Ái Quốc (Tống Văn Sơ) và Lý Phương Thuận (Lý Sâm) nêu rõ: Việc bắt Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt là bất hợp pháp và việc thẩm vấn họ sau 1 tháng (ngày 10 tháng 7) mới tiến hành là phạm luật. Nội dung thẩm vấn vượt ra ngoài những quy định của Luật là không hợp lệ 3). Thêm nữa, sự vắng mặt của Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận tại phiên toà là vi phạm Luật Bảo thân (Habeas Corpus) 4).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118-119, 280.

Tháng 8, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ hai, nhưng bị can không có mặt tại phiên toà. Luật sư Gienkin yêu cầu cho hai bị can có mặt để có thêm thông tin cần thiết, nếu cần, nhưng bị viên công tố Alabaxtơ phản đối. Ông ta đọc Lệnh trục xuất nguyên đơn trong 10 năm và kèm theo là Lệnh của Thống đốc yêu cầu nguyên đơn “phải rời Nhượng địa bằng một tàu biển được chỉ định rời Hồng Kông ngày 18 tháng 8, tàu Angiê”.

Tiếp đó, viên công tố đọc lời khai có tuyên thệ của nguyên đơn, trong đó chỉ rõ sự vi phạm luật của việc bắt và thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc. Theo luật, người thẩm vấn chỉ có quyền hỏi một số câu hỏi nhất định, được in sẵn, nhưng cuộc thẩm vấn ở đây mang đầy tính đối chất về qúa khứ nhằm ép Nguyễn Ái Quốc phạm các tội tuyên truyền cách mạng và có những hành động sai trái khác. Cuối lời khai có tuyên thệ, Nguyễn Ái Quốc tố cáo có nhân viên của chính quyền Đông Dương theo dõi Người ở trong tù, và nói thêm: “Nếu tôi bị trục xuất đến Đông Dương, tôi sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 130-131, 280.

Tháng 8, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ ba. Tại toà, công tố viên Alabaxtơ đọc lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc): “Tống Văn Sơ đã phủ nhận lời khai có tuyên thệ của ông do Trợ lý Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra, bởi vì lời khai đó làm người ta hiểu rằng chỉ có duy nhất một cuộc thẩm vấn, trong khi đó ông bị thẩm vấn ba lần. Bị cáo cũng tố cáo rằng ông bị bắt ngày 6 tháng 6 chứ không phải ngày 12 tháng 6”. Tiếp theo, Alabaxtơ đọc các câu hỏi và các câu trả lời khi thẩm vấn Tống Văn Sơ do Thư ký Trung Hoa vụ biên soạn, đã cố tình làm lệch lời khai; trong đó có đoạn: “Tôi phủ nhận lời buộc tội đó. Tôi không phải là một người cộng sản, nhưng tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc, theo tất cả những gì mà chúng tôi biết, có nghĩa là chiến đấu vì nhà vua và vì đất nước... Chúng tôi là một dân tộc đang chiến đấu và có khả năng tự đứng vững trên chính đôi chân của mình, nhưng cũng cần phải tìm sự viện trợ từ bên ngoài... Vì tổ chức của tôi và tôi trông cậy vào sự giúp đỡ của nước Anh nên tôi không hiểu vì sao tôi lại bị bắt.... Trong thẩm vấn, khi viên Thư ký Trung Hoa vụ đưa ảnh của Nguyễn Ái Quốc ra hỏi: đây có phải là ảnh của Tống Văn Sơ không, Người đã trả lời: “Tôi thừa nhận rằng bức ảnh trông giống tôi và có thể là tôi, nhưng tôi không bao giờ đội cái mũ như vậy. Tôi thừa nhận bức ảnh trong hộ chiếu là của tôi (hộ chiếu này mang tên Tống Văn Sơ)... Tôi thừa nhận là tôi đã thuê căn hộ trong ngôi nhà số 186 đường Tam Kung. Tôi muốn nói rằng bạn tôi tên là Vương đã thuê căn hộ đó.

Ông Vương đã rời Hồng Kông vào tháng 4 và tôi đã tiếp quản từ ông ấy và trả tiền thuê nhà. Người bạn tên là Vương này là nhà buôn và là một người bạn cũ của tôi. Tôi biết ông ấy đã từ rất lâu. Ông ấy không phải là nhà cách mạng.

Tôi thừa nhận rằng tôi đã từng ở Thượng Hải nhưng đã cách đây nhiều năm rồi. Gần đây tôi không liên lạc gì với Thượng Hải. Không có đảng bộ nào của Đảng An Nam ở Thượng Hải...

Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do...

Tôi tha thiết đề nghị cho tôi được tự do hai hoặc ba tuần nếu tôi bị trục xuất, cốt để cho tôi có thì giờ kiến nghị tới Ngài Bộ trưởng rằng tôi muốn được phép sang Anh quốc” 5).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 133-136, 280.

Tháng 8, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ tư. Viên công tố Alabaxtơ tuyên bố thừa nhận lệnh trục xuất đối với Tống Văn Sơ lần thứ nhất là sai, do nội dung thẩm vấn sai; nhưng ngay sau đó lại tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa mới được ban hành vào chiều 15-8-1931, riêng với bị cáo nam và cho phép Lý Phương Thuận được rời ghế bị cáo.

Luật sư Ph. Gienkin phản đối vì: Nếu việc giam giữ là bất hợp pháp thì không thể biến thành hợp pháp bằng cách ban hành một lệnh trục xuất mới giữa hai phiên toà.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 142-143, 280.

Tháng 8, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên tòa thứ năm.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bảo vệ bằng cách vạch rõ sự giả dối và lừa bịp, đội lốt trục xuất để giao bị cáo cho nhà cầm quyền Pháp. Ông nói: “Cả hai lệnh trục xuất trên đây đều bất hợp pháp...

Giả sử lệnh thứ nhất đã được thực hiện, thì Hội đồng Thống đốc cũng không thể bắt giữ theo lệnh thứ hai vì nó hoàn toàn trái với luật hiện hành, quy định không được bắt giữ lại một người vừa mới được phóng thích theo Luật Bảo thân (Habeas Corpus) vì cùng một nguyên nhân, một vấn đề, hay một lý do”.

Sau đó, ông đọc lời khai mới có tuyên thệ của bị cáo Tống Văn Sơ trước toà: “Tôi 36 tuổi. Tôi sinh ở thành phố Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Tôi đã gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, phong trào có mục đích cao nhất là lật đổ toàn bộ quyền lực của Chính phủ Pháp ở đó và thay thế bằng một chính phủ dân tộc dưới sự lãnh đạo của người bản xứ. Tôi đã tham gia tích cực vào phong trào này trong một thời gian trước ngày tôi bị bắt ở Hồng Kông ngày 6-6-1931.

Theo những người cầm quyền của Chính phủ Pháp thì tham gia vào một phong trào như vậy là phạm tội và kẻ phạm tội phải nhận án tử hình.

... Mục đích thực sự của Chính quyền Hồng Kông khi tiến hành các thủ tục trục xuất tôi là nhằm khẳng định việc giao tôi cho Pháp ở Đông Dương để Chính phủ Pháp xử lý tôi theo tội trạng đã nói trên.

Tiếp theo, luật sư Gienkin chất vấn: Hội đồng Hành pháp có họp được đông đủ vào thứ bảy ngày 15 tháng 8 hay không, và có cuộc họp vào ngày đó hay không, vì theo thông lệ chỉ họp vào thứ năm hàng tuần?

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 144-147, 280.

Tháng 8, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ sáu.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng cách yêu cầu viên công tố phải thừa nhận rằng: tài liệu đánh máy do Ban Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra nói rằng nguyên đơn (tức Tống Văn Sơ - T.G) khi thẩm vấn đã khai có bí danh thứ ba là Nguyễn Ái Quốc, là tài liệu giả. Cuối cùng, Công tố viên Alabaxtơ phải thừa nhận trước toà rằng: Cuộc họp của Hội đồng Hành pháp được tiến hành vào thứ năm ngày 13 tháng 8, còn lệnh trục xuất (Nguyễn Ái Quốc) đề ngày thứ bảy 15 tháng 8 (!).

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 148-149, 281.

Tháng 8, trước ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Thái tử Cường Để đang sống ở Nhật Bản nhờ Lý Phương Thuận (Lý Sâm) chuyển sau khi được trả tự do và rời khỏi Hồng Kông.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 9, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ bảy.

Công tố viên Phitroi thừa nhận việc bắt giam Tống Văn Sơ là bất hợp pháp, nhưng lệnh trục xuất thứ hai ngày 15 tháng 8 và việc giam giữ sau đó là hợp pháp.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng một lập luận: Không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp được hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp pháp, ngay cả khi luật pháp cho phép. Ý kiến về điều này vẫn được bảo lưu.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 150-151, 281.

Tháng 9, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ tám.

Toà án đọc phán quyết: Trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương theo lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông ngày 15 tháng 8. Bảo vệ cho quyền lợi của Nguyễn Ái Quốc, luật sư Ph. Gienkin phản đối lệnh trục xuất này: "Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cấm bắt lại một người vì cùng một lý do hoặc cùng một sự việc, sau khi người đó đã được phóng thích theo Luật Bảo thân và ở đây nguyên đơn phải được xem như đã được trắng án vì lệnh trục xuất thứ nhất là bất hợp pháp. Việc bắt giữ một người đang bị giam giữ bất hợp pháp là một việc làm bất hợp pháp, dù cho lệnh bắt giữ là hợp pháp". Lệnh trục xuất có kèm theo lệnh chỉ định tàu biển đi về hướng Đông Dương thực chất là một thủ đoạn dẫn độ, là sai luật.

Luật sư Ph. Gienkin tuyên bố sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 152-154, 281.

Tháng 9, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử - Phiên toà thứ chín.

Tại toà, luật sư của Nguyễn Ái Quốc phát biểu chống lại phán quyết của Toà án thực chất là muốn giao Người cho nhà đương cục Pháp, là trái với Luật Dẫn độ. Luật sư yêu cầu cho Tống Văn Sơ được tự lựa chọn nơi đến, yêu cầu hưởng quyền tự do công dân mà ông đã bị tước đoạt từ ngày 6 tháng 6 và phải trả cho ông số tiền là trên 5000 đôla.

Sau khi Toà nghe bản kháng án tám điểm của luật sư Ph. Gienkin và nghe lời phản đối của ông công tố Alabaxtơ, Toà án chấp nhận cho phép Tống Văn Sơ kháng án lên Hội đồng Cơ mật với điều kiện phải nộp hồ sơ trong thời hạn ba tháng.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 155- 156, 281.

Tháng 9, ngày 13

Ngay sau Phiên toà thứ chín kết thúc một ngày, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Thống đốc Hồng Kông xin được đi Anh mà không yêu cầu điều kiện gì, miễn là được bảo đảm an toàn. Sau đó, Thống đốc Hồng Kông đã gửi điện cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh biết về yêu cầu này, hỏi ý kiến có đồng ý giải quyết như thế không, và nếu đồng ý thì có muốn đặt điều kiện đặc biệt nào không?

Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh trong thư trả lời, gợi ý: Chỉ cần phóng thích, cho ông ta tự thu xếp rời Nhượng địa trong thời hạn ấn định, và làm thế nào để tránh được sự phản đối của Pháp.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 167, 168.

Tháng 10, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc tiếp bà Xtenla Benxơn 6). - một nhà hoạt động văn học và sân khấu ở Hồng Kông, vào thăm Người trong nhà tù Hồng Kông.

Người nói chuyện với bà Xtenla Benxơn bằng tiếng Anh với một thái độ rất lịch thiệp. Với thiện cảm đặc biệt, bà Benxơn đã yêu cầu chồng mình - ông Tômát Xaothonơ, lúc đó là Phó thống đốc Hồng Kông - giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc.

- F. H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 273.

Tháng 11, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi ở dạng tái phát. Nhờ sự can thiệp của luật sư Lôdơbi, Người được chuyển từ ngục Víchtôria sang bệnh xá của nhà tù.

Những ngày nằm ở bệnh viện, Nguyễn Ái Quốc được mọi người kính trọng. Một lần, cô y tá Trung Quốc thường ngày chăm sóc Người, hỏi: "Cộng sản là thế nào? Chú làm cộng sản làm gì để bị bắt bớ khổ thân?". Nguyễn Ái Quốc đã giải thích tóm tắt cho cô hiểu và khêu gợi ở cô tinh thần dân tộc chống đế quốc.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 46.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 201, 281.

Tháng 12, ngày 1

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh được Toà án tối cao Hồng Kông chấp thuận.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 12, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư kèm theo 300 yên và thuốc men của Thái tử Cường Để từ Nhật Bản gửi khi biết Người bị ốm nặng trong nhà ngục ở Hồng Kông.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr.170, 281.

_____________________________

1) Có tài liệu ghi là Tam Tung hoặc Tam Kung (chưa xác minh được). Bản thảo bút tích của T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện viết là Tam Tung (B.T).

2) F.H. Lôdơbi là luật gia dân chủ tiến bộ người Anh, lúc đó là Giám đốc Công ty luật sư RUSS (của người Anh) ở Hồng Kông (B.T).

3) Theo luật pháp Anh quốc, khi thẩm vấn chỉ được hỏi bảy câu hỏi: 1. Tên, 2. Tuổi, 3. Nơi sinh, 4. Người ta tố cáo rằng.... và chứng minh về sự vô tội của bị cáo, 5. Đã ở đây bao lâu, 6. Có người nào quen ở đây? Tên gì? Ở đâu? 7. Người làm chứng, địa chỉ của họ. Nhưng khi thẩm vấn, người thẩm vấn đã hỏi Nguyễn Ái Quốc có phải là cộng sản hay thành viên của Quốc tế thứ ba, hay người cách mạng không? Khi thẩm vấn Lý Phương Thuận lại hỏi: Có chồng hay chưa? (Trong khi Lý Phương Thuận mới 16 tuổi) (B.T).

4) Luật Bảo thân có nghĩa là “bị cáo phải có mặt” tại phiên toà nhằm giám sát các toà án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp của việc giam giữ một người nào đó và bị cáo phải có mặt tại phiên toà (B.T).

5) Những nội dung trên đây được báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, ngày 17-8-1931 đưa tin (B.T).

6) Bà Xtenla Benxơn là bạn thân của bà Lôdơbi. Bà đã cùng chồng vào thăm Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Hồng Kông (B.T).

* Năm 1932

NĂM 1932

Tháng 1, ngày 26

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc do Toà án tối cao Hồng Kông chuyển lên, Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh ở Luân Đôn đã nhận được.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 6, ngày 27

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh đã được các luật sư của Nguyễn Ái Quốc và luật sư của Bộ Thuộc địa cùng nhau thoả thuận giải quyết một số điều khoản như sau:

Nguyễn Ái Quốc sẽ rút đơn kháng án nếu chính quyền Hồng Kông cam kết:

1- Bỏ việc chỉ định "tàu biển" trong lệnh trục xuất.

2- Trong bất cứ trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ hoặc xuống một tàu biển của Pháp.

3- Chính quyền Hồng Kông sẽ hết sức cố gắng để bảo đảm rằng người kháng án sẽ đến được nơi muốn đến.

4- Chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 183-184.

Tháng 7, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc biết tin về nội dung các thoả thuận trên do các luật sư đại diện cho Tống Văn Sơ ở Luân Đôn gửi điện thông báo cho các luật sư đại diện của Tống Văn Sơ ở Hồng Kông.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 188.

Tháng 7, ngày 21

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc và bản thoả thuận của luật sư cả bên nguyên và bên bị đã được Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh chấp thuận cho Nguyễn Ái Quốc rút đơn kháng án và chỉ thị cho Thống đốc Hồng Kông cùng các bên có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 190-191.

Tháng 8, trước ngày 15

Nguyễn Ái Quốc vẫn yêu cầu chính quyền Hồng Kông cho mình được sang Anh theo điều khoản thoả thuận vì phải sang Trung Quốc là một mối nguy hiểm cho mình. Vì vậy xin kéo dài thời gian phải ra đi sau hai tháng nữa để chờ chính quyền Anh trả lời.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 210.

Tháng 8, ngày 29

Nguyện vọng đi Anh của Nguyễn Ái Quốc không được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh chấp nhận, nói rằng trong bản thoả thuận, Chính phủ Hoàng gia Anh không bị ràng buộc bởi yêu cầu này. Ông ta yêu cầu chính quyền Hồng Kông cần bảo đảm cho Nguyễn Ái Quốc đến một nơi mà không có nguy cơ bị Pháp bắt.

Các luật sư đại diện cho Tống Văn Sơ ở Luân Đôn đã phản ứng việc từ chối của Bộ Thuộc địa Anh, trước đã đồng ý nay lại không đồng ý, như vậy là vi phạm điều khoản đã thoả thuận.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 211-212.

Tháng 12, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc được đưa ra khỏi bệnh viện và được tự do.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

* Năm 1933

NĂM 1933

Tháng 1, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc quyết định đi Anh, không chờ chính quyền Anh trả lời, nhưng đến Xinhgapo thì cảnh sát tại đây được nhà cầm quyền Hồng Kông báo trước, không cho Nguyễn Ái Quốc lên bờ, bắt quay trở lại Hồng Kông.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Tháng 1, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc trên đường từ Xinhgapo trở lại

Hồng Kông.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Tháng 1, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc cập bến Hồng Kông và bị cảnh sát Hồng Kông bắt lại.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi luật sư Lôdơbi báo tin mình lại bị giam giữ và yêu cầu luật sư can thiệp. Thống đốc Hồng Kông chỉ thị cho cảnh sát ngay đêm 19 tháng 1 phải trả lại tự do cho Người.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 235, 282.

- E. Côbêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, t.1, tr. 256.

Tháng 1, ngày 22

17h 00 Nguyễn Ái Quốc cải trang như một thương gia giàu có, bí mật cùng người thư ký riêng của luật sư Lôdơbi rời khỏi Hồng Kông trên một chiếc xuồng không phải của chính quyền, đưa Người ra khơi để lên tàu Anhui như một hành khách đến muộn. Kế hoạch này được Thống đốc Hồng Kông giao cho một trợ lý giám thị cảnh sát thực hiện theo cam kết mà chính quyền Hồng Kông đã thoả thuận.

- Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 80-81.

- F.H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 235, 282.

Tháng 1, ngày 25 (30 tháng Chạp năm Nhâm Thân)

Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 41.

Tháng 1, từ ngày 25 đến tháng 7

Nhận lời mời của một số người bạn, Nguyễn Ái Quốc lưu lại ở Hạ Môn qua Tết âm lịch để vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr.41.

- Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 162.

Tháng 3, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Pháp phát lệnh truy nã.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Khoảng tháng 7

Nguyễn Ái Quốc từ Hạ Môn đáp tàu thuỷ lên Thượng Hải.

Đến hôm trước, hôm sau xem báo được biết: “Hôm qua, những tàu biển cập bến tô giới Pháp đều bị các nhà chức trách lục soát rất kỹ”. Người tiếp tục đóng vai một thân sĩ, quần áo sang trọng, ở khách sạn, nhưng đêm đêm khoá phòng lại ăn khoai trừ bữa và tự giặt lấy quần áo.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 46.

Khoảng mùa thu đến cuối năm

Ở Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục tìm cách bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng và đồng chí của mình. Nhờ đọc báo, Người được biết một đoàn đại biểu từ châu Âu đến Viễn Đông tuyên truyền chống chiến tranh đế quốc đang có mặt ở đây, trong đoàn có Pôn Vayăng Cutuyariê. Người liền viết thư gửi cho Pôn, thuê một chiếc xe du lịch đến tự tay bỏ vào thùng thư trước nhà bà Tống Khánh Linh để nhờ bà chuyển giúp tới Pôn Vayăng Cutuyariê 1).

Vài hôm sau, Nguyễn Ái Quốc gặp Pôn Vayăng Cutuyariê. Người kể cho Pôn Vayăng Cutuyariê biết hoàn cảnh khó khăn của mình. Còn Vayăng Cutuyariê nói cho Nguyễn Ái Quốc rõ tình hình phong trào cách mạng Đông Dương và phong trào cách mạng thế giới thời gian qua. Mấy ngày sau cuộc gặp gỡ này, Nguyễn Ái Quốc đã chắp được liên lạc với đoàn thể. Sau này, Người có dịp kể lại nỗi vui mừng của Người lúc ấy:

“Ba năm lưu lạc linh đinh,

Nay đà trở lại trong đại gia đình công nông”.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 46-47.

- Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 162.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 289-292.

------------------------------

1) Nhà bà Tống Khánh Linh lúc đó ở số 29 phố Môlie, Thượng Hải. Viết xong thư, Nguyễn Ái Quốc ăn mặc sang trọng, thuê một chiếc xe du lịch đến, tự tay bỏ vào thùng thư trước cổng nhà.

Sau này, một lần sang nghỉ ở Trung Quốc, Người kể lại với những người xung quanh câu chuyện năm xưa: nhờ sự giúp đỡ của bà Tống mà nối lại được liên hệ với tổ chức Đảng. Người vui vẻ nói: “Lúc đó, tiền lương trong túi sắp hết, nếu không có bà Tống Khánh Linh giúp đỡ thì thật không biết làm thế nào” (B.T).

* Năm 1934

NĂM 1934

Mùa xuân, trước tháng 6

Vào một ngày xuân, trong bộ quần áo dài Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc bước lên một chiếc tàu hàng Xôviết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau mấy ngày, tàu cập cảng Vlađivôxtốc (Liên Xô).

- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo tập 1 (1920-1954), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 211.

- X. Aphônhin, E. Cabêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị, Mátxcơva, 1980 (bản tiếng Nga), tr. 93.

Tháng 6

Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva.

- Thư của Vêra Vaxiliêva, ngày 29-6-1935, gửi Ban Thư ký Phương Đông, tiếng Nga, bản phôtô bức thư, lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 239.

Tháng 9, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc được Ban Phương Đông gửi đến điều dưỡng tại nhà an dưỡng Ximêít ở vùng Crưm.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 296-297.

Tháng 10

Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc chính thức được nhận vào học Trường Quốc tế Lênin6 năm học 1934-1935 (theo Quyết định số 45, ngày 2-10-1934 của Ban Giám đốc Trường Quốc tế Lênin do Phó giám đốc Liđốpxky và Chánh Văn phòng Makinhe thì Lin được Đảng Cộng sản Đông Dương gửi đến học).

Người được đăng ký trong danh sách sinh viên, số hiệu 375.

- Bản chụp tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 - 1988, tr. 46.

Tháng 10 đến tháng 12

Ở Trường Quốc tế Lênin, lúc đầu Nguyễn Ái Quốc sinh hoạt trong nhóm tiếng Trung Quốc. Vài ngày sau, thấy không thích hợp, Người được chuyển sang sinh hoạt ở những nhóm tiếng Pháp.

Người thường gặp gỡ nhóm học sinh Việt Nam học ở Trường đại học Cộng sản Phương Đông để giúp đỡ họ trong học tập lý luận cũng như trong sinh hoạt.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 304.

* Năm 1935

NĂM 1935

Tháng 1, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông 1), ký tên Lin, nêu lên tình trạng thiếu lý luận cách mạng của đại đa số cán bộ Đảng Cộng sản ở Đông Dương, Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia... và những vấp váp, sai lầm, bế tắc của họ do “trình độ lý luận và chính trị rất thấp” gây nên.

Người yêu cầu Ban Phương Đông “phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có” và nêu tên 30 loại sách, tài liệu cần xuất bản viết về các vấn đề sau đây: Tuyên ngôn Cộng sản, Đảng Cộng sản và tổ chức của Đảng, Lịch sử Quốc tế Cộng sản, Luận cương và Nghị quyết về vấn đề thuộc địa của Quốc tế Cộng sản... Theo Người, đó là “biện pháp duy nhất có hiệu quả” để nhanh chóng chấm dứt tình trạng lạc hậu về lý luận cách mạng nói trên. Kết luận, Người nhấn mạnh, đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa như Đông Dương, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ văn hoá của những người lao động còn thấp, thì những quyển sách nhỏ này rất có ích.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 83-87.

- Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, ngày 29

Hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc từ sau khi thoát khỏi nhà tù Hồng Kông được đề cập trong thư của Trưởng phòng Đông Dương Vêra Vaxiliêva gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bày tỏ băn khoăn về việc Nguyễn Ái Quốc dễ dàng thoát khỏi nhà tù Hồng Kông, sự theo dõi sát sao của cảnh sát Pháp và việc tại sao Nguyễn Ái Quốc không được đi thực tế và tham gia vào công tác bí mật của Đảng. Bức thư có đoạn: "Tháng 6 - 1934, Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp... Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vayăng Cutuyariê (Vaillant Couturier) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần phải được kiểm chứng một cách thận trọng. Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lênin tại Mátxcơva, nơi đồng chí đang nghiên cứu... Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lập mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật ".

- Thư của Vêra Vaxiliêva gửi Ban Thư ký Phương Đông (bản sao gửi Phòng Cán bộ IKKI), tiếng Nga, bản chụp, lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 - 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia - Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 239.

Tháng 8, ngày 16 2)

Nguyễn Ái Quốc điền Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản7.

1. Quê quán: Đông Dương.

2. Họ, tên, bí danh trong Đảng hiện nay: Teng Man Huon.

3. Họ, tên, bí danh trong Đại hội: Lin.

4. Dân tộc: Đông Dương.

5. Tuổi: sinh năm 1900, 35 tuổi.

6. Thành phần xuất thân: Gia đình trí thức.

7. Trình độ học vấn: tự học.

8. Đã học trường Đảng chưa? Từ năm nào đến năm nào?: Đang học Trường Quốc tế Lênin.

9. Nghề nghiệp, đã làm bao nhiêu năm?: thuỷ thủ, làm thuê 10 năm.

10. Phương tiện sinh sống hiện nay: sinh viên Trường Quốc tế Lênin.

11. Đã tham gia những bộ phận nào của Quốc tế Cộng sản? Từ năm nào đến năm nào?

- Từ năm 1921 - 1930 tham gia Đảng Cộng sản Pháp.

- Từ năm 1930 đến nay là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

12. Có tham gia các đảng phái nào khác? Từ năm nào đến năm nào?: không.

13. Những công tác Đảng đã và đang tham gia từ Đại hội VI Quốc tế Cộng sản?

- Từ năm 1928, tổ chức phong trào công nhân và nông dân ở Xiêm.

- Năm 1930 - 1931, tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương.

14. Có bị bắt vì hoạt động cách mạng không? Bao nhiêu năm bị tù đày?

- Năm 1931 bị bắt, bị tù 2 năm.

- Năm 1933 ra khỏi tù.

15. Đã tham gia những Đại hội, những Hội nghị quốc tế nào? (Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công đoàn...).

- Đã tham gia Đại hội V Quốc tế Cộng sản với tư cách đại biểu... và Đại hội quốc tế Công đoàn.

16. Từ nước mình hay nước ngoài đến (Liên Xô)?

- Từ nước ngoài (Trung Quốc).

17. Có là thành viên của nghị viện, cơ quan hành chính nào không?

- Không.

Ký tên: Lin.

- Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 310-312.

Tháng 8, sau ngày 20

Nguyễn Ái Quốc và Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản dự bữa cơm thân mật do Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp M. Tôrê (M. Thorez) và Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Minh tổ chức ở ngoại ô Mátxcơva để chúc mừng Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh oanh liệt, thắng lợi vẻ vang.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 318.

Tháng 9, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc cùng với Nguyễn Thị Minh Khai,

Tú Hưu 3) dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, khai mạc tại Trụ sở các công đoàn Liên Xô. Tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà văn I. Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 320.

-----------------------------

1) Thư viết bằng tiếng Pháp. Cuối thư ký tên Lin (bằng tiếng Nga) (B.T).

2) Ngày 16-8-1935 là ngày tháng ghi ở cuối Bản khai. Còn ở phần trên Bản khai ghi ngày 13-8-1935 (B.T).

3) Tú Hưu: đồng chí Hoàng Văn Nọn (B.T).

* Năm 1936

NĂM 1936

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc cùng với một số đồng chí trong Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản chuẩn bị cho các đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Tú Hưu về nước qua đường Pháp - Hồng Kông - Việt Nam. Người dặn kỹ kinh nghiệm, mật hiệu liên lạc khi đến Hồng Kông... Người còn dặn mấy ý kiến chuyển tới đồng chí Duy (tức Lê Hồng Phong) ở Thượng Hải: Trung ương Đảng phải chuyển về trong nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào; không thoả hiệp với bọn tơrốtxkít; lập Mặt trận Dân tộc dân chủ rộng rãi chống phátxít, chống chiến tranh đế quốc...

- Tú Hưu: Đi họp Quốc tế Cộng sản, Nxb. Dân tộc, Việt Bắc, 1964.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 325-327.

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị kế hoạch xin về nước. Người dự định sang Béclin rồi sang Pháp, và từ Pháp đi tàu về Đông Dương... Nếu gặp khó khăn thì đến Thượng Hải, nơi Quốc tế Cộng sản đã lập lại các cơ sở liên lạc của mình, rồi tìm đường về Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc được Vụ Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản mời đến làm tờ khai lý lịch, hộ chiếu, giấy đi đường...

Song, chuyến đi này phải huỷ bỏ vì tình hình thay đổi.

Trong khi chờ đợi một dịp khác, Nguyễn Ái Quốc vào làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa8 đặt trụ sở tại nhà số 25, đại lộ Tvécxkôi ở Mátxcơva.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 322.

- Nguyễn Khánh Toàn: Gặp Bác Hồ ở Liên Xô, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 114.

Khoảng cuối năm

Sau khi nhận công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc (Lin) chuyển chỗ ở về phố Bansaia Brônnaia, nhà số 6a, phòng 417.

- Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây). Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

* Năm 1937

NĂM 1937

Tháng 1, sau ngày 17

Nguyễn Ái Quốc (Lin) là một trong 21 người được tuyển chọn vào lớp nghiên cứu sinh do Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa mở cho một số cán bộ, giảng viên, phiên dịch viên của Viện, nhằm đào tạo các giảng viên có trình độ cao cho các khoa kinh tế, lịch sử...

- Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 1, sau ngày 17

Nguyễn Ái Quốc lập Kế hoạch cá nhân của nghiên cứu sinh 1) trong biên chế Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản) với một số chỉ tiêu, thời hạn:

1. Họ và tên nghiên cứu sinh: LIN.

2. Thời gian thực hiện kế hoạch này: từ 1-I-1937 đến 31-XII-1937.

3. Công trình nghiên cứu sinh phải hoàn thành, nộp trong thời hạn trên.

I - Kế hoạch học tập năm thứ nhất


1. Triết học hoàn thành:

31-XII

2. Lịch sử cổ đại và trung đại:

1-VII

3. Lịch sử cận đại:

1-I / 31-XII

4. Tiếng Nga:

31-XII

II - Công việc tại phòng (Đông Dương)


1. Tình cảnh của nông dân Đông Dương: 1-IV / 1-VI


2. Lập hồ sơ báo chí: Theo quá trình tích luỹ tư liệu.


Ngoài định mức


Dịch: a/ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản


b/ Lênin “Bệnh ấu trĩ tả khuynh”


4. Địa chỉ và điện thoại của nghiên cứu sinh:

Phố Bansaia Brônnaia, nhà số 6a, phòng 417.

- Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa năm

Nguyễn Ái Quốc (Lin) dự kỳ thi học kỳ I năm học 1937-1938 của lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Các môn duy vật biện chứng, lịch sử cổ đại và lịch sử trung đại đạt trung bình, môn lịch sử hiện đại đạt điểm xuất sắc 2).

- Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc (Lin) là một trong hai nghiên cứu sinh không đăng ký đi nghỉ hè một tháng theo kế hoạch của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa dành cho các nghiên cứu sinh.

- Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi đồng chí Ăngđrê Mácty 3) thể hiện tình cảm thắm thiết, lòng tiếc thương vô hạn về việc đồng chí Pôn Vayăng Cutuyariê từ trần.

- Thư tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 88-89.

Khoảng cuối năm

Được sự giúp đỡ của các giáo sư, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư liệu để bắt tay vào viết bản luận án với đề tài do Người tự chọn: Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 324.

----------------------------

1) Phần cuối kế hoạch này có chữ ký của Trưởng phòng Đông Dương Vaxiliêva và chữ ký của Trưởng ban khoa học đề ngày 10-11-1937, với lời phê duyệt: “Tôi chuẩn y hoàn toàn kế hoạch cá nhân này” (B.T).

2) Kết quả trên đây được trích từ “Phiếu cá nhân” của nghiên cứu sinh: LIN, kỳ I, năm thứ nhất, năm học 1937-1938 (B.T).

3)a A. Mácty, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, Uỷ viên Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản (nhiệm kỳ Đại hội VII), trực tiếp phụ trách Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản (B.T).

* Năm 1938

NĂM 1938

Tháng 6, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc (Lin) viết Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản. Toàn văn bức thư (viết bằng tiếng Pháp) như sau:

Đồng chí thân mến,

Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Kông. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi. Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.

Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng.

Tôi sẽ rất biết ơn đồng chí, thưa đồng chí thân mến, cho phép tôi được hội kiến. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn. Đã từ lâu rồi đồng chí không gặp tôi.

Đồng chí thân mến, xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em của tôi.

6-6-1938

LIN

(Nguyễn Ái Quốc)

- Bản chụp thư tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 90.

Tháng 9, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc rời khỏi biên chế của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa 1).

- Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10

Vào một buổi chiều se lạnh, Nguyễn Ái Quốc đáp xe lửa ở ga Iarôxlapxki rời Mátxcơva đi về phương Đông.

- Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 335.

Mùa đông

Nhờ mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đến Văn phòng Lan Châu của Giải phóng quân Trung Quốc để từ đó đi Tây An.

Tại Lan Châu 2), Người được Ngũ Tu Quyền 3) - Chủ nhiệm Văn phòng tiếp đãi chu đáo. Theo sự sắp xếp của tổ chức, Người nhận quân phục và phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá với bí danh Hồ Quang.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 57.

- Ngũ Tu Quyền: Chặng đường kinh lịch của tôi 1908-1949, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 134-135.

Mùa đông

Sau vài ngày ở Tây An, Người cùng mấy đồng chí Trung Quốc “hộ tống” mấy xe bò, xe ngựa, xe trâu chở vải rách (mua về để bện dép) đi Diên An 4).

Khoảng một tuần sau Người đến Diên An.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 58.

Mùa đông

Ở Diên An hai tuần, Nguyễn Ái Quốc trở lại Tây An. Lần này, Người đi cùng 5 chiếc xe hơi chở học sinh và cán bộ trung, cao cấp. Trên đường qua vùng “trắng”, bọn đặc vụ Quốc dân Đảng lục soát xe, dọa giữ xe, giữ người. Trước thái độ cứng rắn của quân cách mạng, quân “trắng” phải lùi.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63.

Mùa đông

Rời Tây An, Nguyễn Ái Quốc tìm đường đi Quảng Tây. Cùng đi có đồng chí L. là cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để được an toàn trên đường đi, Nguyễn Ái Quốc sắm vai lính hầu của quan trưởng L.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc trong vai thiếu tá Bát lộ quân Hồ Quang cùng tướng Diệp Kiếm Anh đến Quế Lâm, ở trong trụ sở Văn phòng Bát lộ quân5) đặt tại thôn Lộ Mạc ở ngoại ô thành phố.

- Hồ Chí Minh: Truyện và ký, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1974, tr. 323.

- Tư liệu phỏng vấn của Nhà lưu niệm Bát biện Quế Lâm (Trung Quốc). Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 53.

Một ngày cuối năm

Nhận được chiếc máy chữ của Pháp sản xuất, do Lý Bội Quần, một đồng chí Trung Quốc mua hộ từ Hải Phòng về, Nguyễn Ái Quốc rất vui.

Buổi chiều, Người cảm ơn đồng chí Lý bằng một bữa khao ở Quế Lâm tửu quán.

Người dùng chiếc máy chữ này để đánh các bài báo gửi về Việt Nam và các báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản.

- Hồi ký của Lý Bội Quần. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 55.

Cuối năm đến đầu năm sau

Nguyễn Ái Quốc trong vai thiếu tá Hồ Quang - công tác tại Phòng Cứu vong 6) thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, là Ủy viên y tế kiêm Ủy viên bích báo, tham gia lãnh đạo Phòng.

Người còn phụ trách biên tập tờ Sinh hoạt tiểu báo, tờ báo nội bộ của cơ quan.

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63-64.

- Tư liệu phỏng vấn của Nhà lưu niệm Bát biện Quế Lâm (Trung Quốc). Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 54-55.

Tháng 12

Nguyễn Ái Quốc viết bài Người Nhật Bản muốn khai hoá Trung Quốc như thế nào, ký tên P.C. Lin 7).

Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, bằng cách trích những đoạn trong một cuốn sách của một tác giả phương Tây 8) và một số tài liệu sưu tầm khác, Người đã công bố nhiều con số, nhiều việc làm mà phát xít Nhật đã gây ra ở trại tị nạn Nam Kinh từ giữa tháng 12-1937 đến giữa tháng 12-1938. Bài viết tập trung vào chủ đề “Người Nhật Bản và trại những người tị nạn ở Nam Kinh” với các vấn đề “Hãm hiếp, Những vụ tàn sát”. Qua đó, Người tố cáo những vụ tàn sát dã man, như hàng chục nghìn đàn bà, con gái Trung Quốc ở nhiều lứa tuổi (kể cả những em gái dưới 10 tuổi và cả những bà già 60 tuổi) bị giặc Nhật bắt cóc và hãm hiếp.

Theo Người, những vụ việc, những con số khách quan ấy tuy chưa phản ánh đầy đủ tội ác của phát xít Nhật, nhưng “cũng đã đủ cho người ta một ý niệm về những gì mà bọn Nhật đã và đang tiến hành ở Trung Quốc. Và cũng như những gì mà chúng nhất định sẽ tiến hành tại các nước khác ở châu Á, nếu một khi chúng đã thắng được nhân dân Trung Quốc”.

Tác giả kết luận: “Bọn phát xít dã man tưởng rằng chúng có thể dùng khủng bố để làm bại hoại tinh thần của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Nhưng chưa bao giờ nhân dân và quân đội Trung Quốc lại đoàn kết và kiên quyết như ngày nay để đánh tan giặc ngoại xâm! Những sự tàn bạo của bọn Nhật sẽ được đáp lại một cách đích đáng bằng chủ nghĩa anh hùng vô song của những người Trung Hoa đang chiến đấu cho nền độc lập và sinh mệnh của mình”.

- Báo Notre Voix, ngày 12-2-1939 và ngày 5-3-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 91-98.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách nói về Khu vực đặc biệt và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị và quân sự, sự tàn ác của bọn phát xít Nhật, tinh thần anh dũng của các chiến sĩ Trung Quốc, cuộc đấu tranh chống bọn tơrốtxkít.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 140.

___________________________

1) Ngày 30-9-1938, Phòng cán bộ của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa đã ra Quyết định số 60 (mật), nội dung như sau:

Sinh viên mang số hiệu 19 (Lin) từ ngày 29-9-1938 đã rời khỏi biên chế của Viện (về nước).

Trưởng phòng cán bộ Nin-Ka-Pê Nôvicốp

2) Lan Châu, thủ phủ tỉnh Cam Túc (tây bắc Trung Quốc), điểm trọng yếu trên tuyến giao thông từ Urumsi (thủ phủ Tân Cương) vào nội địa Trung Quốc (B.T).

3) Ngũ Tu Quyền, cán bộ cao cấp Đảng Cộng sản Trung Quốc, là Chủ nhiệm Văn phòng Lan Châu của Giải phóng quân Trung Quốc những năm 30 của thế kỷ XX. Văn phòng này có nhiệm vụ liên hệ với phòng đại diện ngoại giao và phòng đại diện quân sự của Liên Xô ở Lan Châu, qua đó móc nối mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc với Đảng Cộng sản Liên Xô, chuyển giao các văn kiện, thông tin và tư liệu của Đảng, tiếp đón cán bộ nhân viên qua lại giữa Liên Xô và Trung Quốc (B.T).

4) Diên An, thị trấn của tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc), bấy giờ là căn cứ đầu não của 18 vạn quân cách mạng và khu giải phóng Hoa Bắc(B.T).

5) Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm có trụ sở đối ngoại là số nhà 138, đường Quế Bắc (nay là số 98, đường Trung Sơn Bắc); các bộ phận hậu cần, cơ yếu, giao thông, điện đài, v.v. đóng ở thôn Lộ Mạc. Thôn này nằm ven đường sắt, cách Quế Lâm khoảng sáu kilômét về phía bắc, chia làm hai bộ phận ở hai bên đường sắt. Nguyễn Ái Quốc ở bộ phận phía tây đường, cùng với phần lớn cán bộ của Văn phòng.

Người phụ trách Văn phòng lúc đó là Lý Khắc Nông (B.T).

6) Hà Khải Quân (Trung Quốc), người phụ trách Phòng Cứu vong lúc đó có một đoạn hồi ký như sau:

Tôi cùng công tác với đồng chí Hồ Chí Minh từ cuối năm 1938 đến xuân hè năm 1939 tại Phòng Cứu vong của Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm và cùng ở trong một nhà lớn phía tây đường sắt trong thôn Lộ Mạc. Hồi đó, Người mang tên Hồ Quang, tiếng nói pha giọng Quảng Đông. Phòng Cứu vong chúng tôi giống như câu lạc bộ nhưng không hoàn toàn là câu lạc bộ, bởi vì Phòng còn có nhiệm vụ giáo dục chính trị và văn hoá. Phòng có nhiều uỷ viên như uỷ viên kinh tế tài chính, uỷ viên y tế, uỷ viên văn thể, uỷ viên bích báo... Hồ Quang là Ủy viên y tế kiêm Ủy viên bích báo, vì vậy cũng là một thành viên lãnh đạo Phòng. Tôi còn nhớ Hồ Quang từng phụ trách kiểm tra vệ sinh, làm việc rất chu đáo, yêu cầu rất nghiêm khắc... Hồ Quang còn phụ trách biên tập tờ Sinh hoạt tiểu báo, một tờ báo nhỏ truyền tay nhau đọc trong nội bộ cơ quan chúng tôi. Bản thảo được chép lại bằng bút lông rồi đóng thành tập. Bìa báo do Hồ Quang trình bày, tên báo cũng do đồng chí ấy viết. Nội dung phần lớn là những sinh hoạt trong cơ quan, có biểu dương, có phê bình, khoảng 10 ngày ra một số. Ngoài công việc biên tập và chép lại, Hồ Quang còn viết rất nhiều bài, có lúc làm cả những bài thơ nho nhỏ theo thể thơ cổ của Trung Quốc (B.T).

7) Cuối năm 1938 và trong năm 1939, từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài báo gửi về nước, đăng trên tuần báo Notre Voix(Tiếng nói của chúng ta), một tờ báo công khai của Đảng ta, xuất bản tại Hà Nội những năm 1936-1939. Trong các bài báo ấy, Người thường ghi “Thư từ Trung Quốc”, ghi Quế Lâm, ngày... tháng... và ký tên “P.C.Lin”. Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Người đã phân tích khoa học tình hình đang diễn ra ở Trung Quốc, tố cáo tội ác của phát xít Nhật, nêu cao chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Trung Quốc đang chiến đấu cho độc lập dân tộc. Những bài báo này của Người đã giới thiệu với nhân dân Việt Nam những vấn đề và kinh nghiệm của nhân dân Trung Quốc, giúp nhân dân ta nâng cao cảnh giác, đấu tranh cho hoà bình, chống chủ nghĩa phát xít và chống chiến tranh.

Với nội dung tương tự, báo Dân chúng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản ở Sài Gòn, đăng liền trên ba số 46 (ngày 21-1-1939), 47 (ngày 24-1-1939) và 48 (ngày 28-1-1939) dưới đầu đề Những sự hung tàn của đế quốc Nhật. Đây là lần đầu tiên, báo Đảng trong thời kỳ vận động dân chủ đăng bài của Nguyễn Ái Quốc (B.T).

8) Đó là quyển Ý nghĩa của chiến tranh - Những sự tàn bạo của người Nhật Bản ở Trung Quốc (“What war means - the Japanese atrocities in China”) của H.J. Timpớclây, thông tín viên báo Người bảo vệ Mansextơ (B.T).

* Năm 1939

NĂM 1939

Đầu năm

Với bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến Trùng Khánh. Người ở tại Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh 1) đặt tại thôn Hồng Nham.

Người thường đến thăm Chu Ân Lai, một đôi lần gặp cả Franklin Lien Ho 2) ở đó.

- King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 34.

- Hoàng Tranh: Ghi chép phỏng vấn đồng chí Lưu Ngang. Dẫn trong Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 59-60.

Tháng 2, ngày 10

Từ Văn phòng Bát lộ quân Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc đi với Diệp Kiếm Anh đến lớp huấn luyện cán bộ du kích tại Nam Nhạc thuộc Hoành Dương, tỉnh Hồ Nam 3).

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63.

- Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 55-56.

Tháng 4, ngày 9

Bài viết Thư từ Trung Quốc khởi đầu bằng dòng chữ “Quế Lâm, cuối tháng 2”, ký tên P.C. Lin của Nguyễn Ái Quốc, in trên báo Notre Voix9.

Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra sự thống nhất và hợp tác bước đầu của hai Đảng chính trị lớn ở Trung Quốc lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng trong Mặt trận dân tộc chống Nhật. Mặt khác, Nguyễn Ái Quốc cũng lên án khuynh hướng thất bại chủ nghĩa và đầu hàng Nhật, mà đại biểu của nó là Uông Vệ Tinh - cựu Chủ tịch Hội đồng chính trị quốc gia nước Trung Hoa.

Người giới thiệu kết quả của kỳ họp lần thứ ba của Hội đồng chính trị quốc gia Trung Quốc: “vạch ra và thảo luận 86 dự án và kiến nghị, trong đó có 19 dự án và kiến nghị thuộc những vấn đề về quân sự, 18 về kinh tế và tài chính, 17 về giáo dục nhân dân, 3 về ngoại giao, 28 về nội trị, 3 về những vấn đề khác”.

- Báo Notre Voix, ngày 9-4-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 99-102.

Tháng 4, ngày 16

Bài viết Thư từ Trung Quốc khởi đầu bằng dòng chữ “Quế Lâm, đầu tháng 3”, ký tên P.C. Lin của Nguyễn Ái Quốc in trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc trích dẫn từ bản tin Những con số hùng hồn về những thiệt hại, tổn thất của bọn xâm lược Nhật Bản “trên mặt trận du kích” ở Trung Quốc. Trong phần kết, Người viết: “Nhưng nếu bọn Nhật muốn quân du kích đánh giặc như những “người văn minh” bằng cách dùng giáo mác và súng trường để chọi với xe tăng và đại bác thì chúng có thể cứ chờ đó. Chúng tôi không đến nỗi ngu ngốc như thế!”.

- Báo Notre Voix, ngày 16-4-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 103-108.

Tháng 4, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi một đồng chí ở Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ký tên Lin, để bổ sung thêm một vài điều mà trong thư trước quên chưa nói. Đó là mối quan hệ với tờ Notre Voix, tờ báo có “những thông tin khá hay” về những tờ báo cánh tả, về Đảng Xã hội, về hoạt động của “đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội”, về “sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những... phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động", về sự hoạt động của bọn phản động.

Qua đó, Người nhận định: “tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh”. Người cũng thông báo đã “góp phần nhỏ bé (...) vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân”.

Người ghi:

Địa chỉ: (Bằng máy bay).

Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc.

(Sau dòng địa chỉ bằng tiếng Pháp là dòng chữ Hán viết tay: Tân Hoa nhật báo, số nhà 35, đường Quế Tây, Quế Lâm, Quảng Tây, chuyển cho ông Lâm Tam Xuyên).

- Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 121-124.

Tháng 4, ngày 30

Bài viết Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật, ký tên P.C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, in trên báoNotre Voix.

Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những hoạt động đầu tiên của công nhân mỏ Hân Định 4) khi bọn Nhật đến khai thác “miếng mồi béo bở” này. “Công nhân mỏ biến thành du kích” và đó là “gánh nặng” đối với kẻ xâm chiếm. Vì vậy, Người mở đầu bài viết bằng một khẳng định: “Trong chiến tranh chống Nhật, công nhân Trung Quốc là những người yêu nước ưu tú nhất”. Nông dân cũng là lực lượng kháng Nhật mạnh mẽ. Cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc làm cho “Bọn Nhật ngày càng trở nên mệt mỏi”. Từ những cuộc đấu tranh riêng rẽ của nông dân, công nhân đã “hình thành nên một phong trào mạnh mẽ của du kích vùng mỏ... Như vậy là bùng nổ cuộc chiến tranh công khai thật sự giữa bọn Nhật và anh em công nhân ở Hân Định".

Cuộc chiến tranh chống Nhật của công nhân Trung Quốc được cả hai vợ chồng kỹ sư người Đức ủng hộ. Cuộc chiến đấu này không chỉ khẳng định phẩm chất “yêu nước ưu tú nhất” của công nhân Trung Quốc mà còn vì nền văn minh chung của nhân loại nữa.

- Báo Notre Voix, ngày 30-4-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 109-115.

Tháng 5, ngày 21

Bài viết Thư từ Trung Quốc - Những khó khăn của quân đội Nhật khởi đầu với dòng chữ “Quế Lâm, ngày 15-4”, ký tên P. C. Lin của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc thuật lại (từ các nguồn thông báo chính thức) một số vụ binh biến (ở Đại Cô ngày 22 tháng Giêng, ở Hán Khẩu ngày 9 tháng 2,...) và tình hình từ chỗ cuồng tín “Hy sinh vì Nhật hoàng là vinh dự lớn nhất!”, “Hãy chiến thắng khi trở về hoặc là tự sát trên chiến trường!” đến tình trạng mất lòng tin, đến những vụ tự tử để khỏi phải ra mặt trận, những vụ nổi dậy của binh lính Nhật ở Hồng Kông, Louang... Kết thúc bức thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Sau khi đọc qua vài sự việc trên đây, chắc các bạn thừa hiểu vì sao bọn Nhật sau khi chiếm Hán Khẩu, Quảng Châu và Nam Dương thì không còn tiến được nữa”.

- Báo Notre Voix, ngày 21-5-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 116-120.

Tháng 6, ngày 23

Bài viết Thư từ Trung Quốc - Về chủ nghĩa Tờrốtxki10 khởi đầu bằng dòng chữ “Quế Lâm, ngày 10-5-1939”, ký tên P.C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc chuyển đến người đọc năm nhận định về chủ nghĩa Tờrốtxki và bọn tờrốtxkít:

1. Đây là một vấn đề liên quan đến toàn quốc, toàn dân: một vấn đề chống lại Tổ quốc, chứ “không phải là sự tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc”.

2. Bọn phát xít Nhật và bọn phát xít nước ngoài tuyên truyền xuyên tạc, làm cho người ta tưởng rằng những người cộng sản và bọn tờrốtxkít là cùng một cánh với nhau.

3. Bọn tờrốtxkít ở tất cả các nước là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phátxít.

4. Ở tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp, bẩn thỉu của chúng.

5. Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất.

Cuối thư, Người hẹn sẽ nói rõ hơn về hành động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc trong một bức thư sau. Kèm theo một lời chào: “Mong sớm được gặp lại các bạn”.

- Báo Notre Voix, ngày 23-6-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 125-127.

Tháng 6, ngày 20 đến tháng 9, ngày 20

Với bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc tham gia khoá 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc 5) (Hồ Nam, Trung Quốc). Tại đây, Người còn phụ trách việc nghe đài lấy tin cho lớp huấn luyện 6).

- T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 64.

- Ngô Khê Như: Hồi ức về lớp huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 56-57.

Tháng 7, ngày 7

Bài viết Thư từ Trung Quốc - Hoạt động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc, ký tên P.C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc đã vạch mặt một số tên đại biểu tờrốtxkít và những hành động phản bội Tổ quốc của chúng - để nhận của Sở mật thám Nhật, mỗi tháng 30 đôla, “cùng những khoản tiền trả thêm cho cân xứng với những “công việc đã làm được có kết quả””. Đó là việc xuất bản những tạp chí và những tập trào phúng để truyền bá tư tưởng đầu hàng, bào chữa cho ý đồ xâm lược của Nhật ở Trung Quốc; tìm cách phá hoại phong trào kháng Nhật, bắt “những người cầm đầu giỏi nhất của cuộc bãi công”.

- Báo Notre Voix, ngày 7-7-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 128-129.

Tháng 7, ngày 14

Bài viết Thư từ Trung Quốc - Tổng kết sau hai năm đấu tranh, ký tên P. C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ, tuy Nhật đã chiếm 12 tỉnh của Trung Quốc với số dân 200 triệu người, nhưng chúng đã thất bại trên các mặt trận chính trị, kinh tế, quân sự.

Về phía nhân dân Trung Quốc, tác giả trình bày cuộc kháng chiến anh dũng chống Nhật và khẳng định: “Chúng tôi có “thiên thời, địa lợi và nhân hoà” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng”.

Kết thúc bài viết là một trích đoạn bài hát:

“Ai có tiền thì góp tiền.

Ai có sức thì góp sức.

Mỗi chúng ta là một chiến sĩ anh dũng.

Tiến lên! Quân thù sắp phải nhả ra thôi.

Hãy cống hiến tất cả! Hãy cống hiến tất cả!

Cho chiến thắng đang đến với chúng ta!”.

- Báo Notre Voix, ngày 14-7-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 130-133.

Tháng 7, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết bài Thư từ Trung Quốc - Hoạt động của bọn tờrốtxkít ở Trung Quốc, trong đó, Người trình bày thêm về những tội ác của bọn tờrốtxkít. Chúng khơi dậy chủ nghĩa địa phương trong dân chúng để chống lại Chính phủ kháng Nhật và tìm cách làm cho Hồng quân suy yếu, chúng phá hoại Mặt trận đoàn kết, âm mưu diệt trừ cộng sản, gây rối loạn ở hậu phương.

- Báo Notre Voix, ngày 28-7-1939 và ngày 11-8-1939.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 134-137.

Cuối tháng 7

Nguyễn Ái Quốc viết tám điểm xác định đường lối, chủ trương cho cách mạng Đông Dương, trong thời kỳ 1936-1939. Đó là “Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt”. Tám điểm này được gửi kèm theo với báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản để xin ý kiến. Đó là:

1. Khẩu hiệu đấu tranh: “Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật”...

2. Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

3. Phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo, lôi kéo tư sản dân tộc về phía Mặt trận.

4. Không được thoả hiệp, nhượng bộ với bọn tờrốtxkít.

5. Liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp.

6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất.

7. Kiên quyết chống tư tưởng bè phái, phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin.

8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị.

- Bản chụp bút tích, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 138-139.

Cuối tháng 7

Ký tên P. C. Lin, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương từ năm 1936 đến năm 1938.

Báo cáo mở đầu: “Các bạn thân mến, Tôi ra đi đã 9 tháng nay và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi đã rơi vào cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người và trên con đường di chuyển của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Tuy nhiên điều đó cũng không thể bào chữa cho sự bất lực của tôi...”.

Nguyễn Ái Quốc trình bày một số việc mà Người đã tiến hành trong thời gian 7 tháng qua (đối với cách mạng Đông Dương và đối với công tác tuyên truyền quốc tế). Người cũng gửi kèm theo báo cáo này bản sao tám điểm có tính chất phương hướng cho cách mạng Đông Dương trong tình hình mới để xin ý kiến. Nội dung báo cáo có những phần sau:

- Tình hình chính trị trong người bản xứ: một số đảng viên xã hội người bản xứ hoạt động trong các Hội đồng quản hạt của Pháp và đám tang Phan Thanh - một đám tang lớn chưa bao giờ thấy “như thế ở Hà Nội”.

- Tổ chức chính trị của Pháp ở Bắc Kỳ với các hoạt động của Chi nhánh Đảng Xã hội Bắc Đông Dương, Hội nhân quyền.

- Cuộc đấu tranh của công nhân: nhiều cuộc bãi công, biểu tình nổ ra trong khắp nước, có tổ chức, kỷ luật hơn và được sự ủng hộ tinh thần, vật chất của công nhân nhiều ngành.

- Hoạt động của báo chí, xuất bản sách báo cách mạng.

- Tình cảnh của tù chính trị với khoảng 1500 người ở trong các nhà lao, bị đàn áp, o ép.

- Sự ủng hộ lẫn nhau giữa cách mạng Đông Dương và Trung Quốc, cũng như sự cấu kết giữa bọn Pháp và Tưởng.

- Hoạt động của Nhật ở Đông Dương nhằm xâm chiếm xứ này.

- Báo cáo tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 140-161.

Tháng 9, sau ngày 20

Với bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc rời Hoành Dương, tỉnh Hồ Nam đi Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc).

- Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Tháng 10, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm.

- Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Tháng 10

Nguyễn Ái Quốc rời Quế Lâm qua Liễu Châu, Nam Ninh đi Long Châu để bắt liên lạc với các đồng chí Việt Nam ở trong nước phái ra. Cùng đi có một đồng chí Trung Quốc, có công vụ qua Việt Nam đi Hồng Kông kết hợp làm nhiệm vụ hộ tống 7).

Tại Long Châu, Nguyễn Ái Quốc không gặp được người từ Việt Nam cử sang. Người lại quay về Quế Lâm.

- Hồ Chí Minh: Cách mạng Trung Quốc với cách mạng Việt Nam. Báo Nhân dân, ngày 1-7-1961.

- Hồi ký của Lý Bội Quần. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 58.

Tháng 10, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Quý Dương, thủ phủ tỉnh Quý Châu (Trung Quốc). Người được bố trí ở tầng trên của Văn phòng Bát lộ quân tại Quý Dương 8).

- Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

- Hoàng Tranh: Ghi chép cuộc phỏng vấn đồng chí Viên Siêu Tuấn. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 59-60.

Tháng 11, ngày 7

Nguyễn Ái Quốc rời Quý Dương 9).

- Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Tháng 11, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc trở lại Quý Dương 10) nhưng vẫn không gặp được những người đi đón, nên lại tìm đường đi Côn Minh.

- Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Khoảng tháng 11

Nguyễn Ái Quốc từ Quý Dương đến Trùng Khánh. Tại đây, Người thường hay lui tới Văn phòng của Bát lộ quân đóng tại thôn Hồng Nham. Lần nào “Người cũng ở một gian buồng nhỏ tầng trên của Văn phòng, kề sát với buồng của đồng chí Tiền Chi Quang”.

- Tưởng Vĩnh Kính: Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc, 1972, tr. 59.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc bí mật gặp ông Hồ Học Lãm, bấy giờ đã theo Bộ Tổng tham mưu quân Quốc dân Đảng rút về Trùng Khánh từ năm 1937.

Ông Lãm đã báo cho Người biết một số tình hình của Chính phủ Tưởng Giới Thạch, về hoạt động của Lê Thiết Hùng giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc trong năm lần quân Tưởng vây quét khu Xôviết.

Nguyễn Ái Quốc đã nhờ ông Lãm báo tin cho Lê Thiết Hùng tìm cách ra khỏi quân đội Tưởng, trở về Quế Lâm.

- Lê Thiết Hùng: Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 10-1986[1]) Lưu Ngang, cán bộ Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh thời kỳ này, cho biết:

------------------

1) Lưu Ngang, cán bộ Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh thời kỳ này, cho biết:

Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, vào khoảng các năm 1939-1940, tôi đã nhiều lần được gặp Hồ Chí Minh tại Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh. Lúc bấy giờ Người mang bí danh Hồ Quang. Nhiều đồng chí chúng tôi không biết rằng Người là đồng chí của Đảng anh em. Người đến lần nào cũng ở một gian buồng nhỏ tầng trên của Văn phòng, kề vách với phòng ở của đồng chí Tiền Chi Quang. Đồng chí Hồ Quang ăn mặc rất giản dị, thường đi hài sảo, mặc áo vạt chéo kiểu đời Đường, trông như một thầy giáo nông thôn. Nói pha giọng Quảng Đông. Chúng tôi cứ tưởng là người Quảng Đông. Trán cao, lại tên là Hồ Quang, nên sau lưng đồng chí ấy, chúng tôi thường gọi là “Quang hói”. Người mang theo máy chữ bên mình, thường đánh máy chữ trong phòng. Có lúc Người cũng hỏi han chuyện trò với các đồng chí. Có lần tôi hỏi đồng chí đã có vợ chưa, có con cái gì không. Người bảo chưa lấy vợ. Bấy giờ, gần địa điểm làm việc của “Bát biện” Trùng Khánh có một cây cổ thụ, Hồ Quang rất thích nghỉ ngơi, đi bách bộ dưới bóng cây ấy. Vì Người đến với cương vị bí mật, thường là đồng chí Chu Ân Lai trực tiếp liên hệ với Người, nên chúng tôi ít được biết hoạt động của Người (B.T)

2) Franklin Lien Ho, từng là giáo sư Trường đại học Columbia, sau đó là Thứ trưởng Bộ Kinh tế của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Thời gian này ông nhiều lần đến nơi làm việc của Chu Ân Lai. Chi tiết này được ông khẳng định trong thư gửi King C. Chen, ngày 13-7-1967 (B.T).

3) Lớp huấn luyện cán bộ du kích tại Nam Nhạc là lớp huấn luyện do Quốc - Cộng hợp tác tổ chức trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Ngày 23-1-1938, Tưởng Giới Thạch triệu tập một cuộc hội nghị quân sự ở Hoành Sơn - Nam Nhạc, nêu chủ trương “Kháng chiến kỳ hai, coi trọng đánh du kích hơn đánh chính quy” và quyết định bắt chước cách làm của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tổ chức tại Nam Nhạc một lớp huấn luyện, đào tạo cốt cán để mở rộng chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Vì vậy, Tưởng yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc cử cán bộ đến giảng dạy về chiến thuật du kích cho lớp huấn luyện. Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định cử Diệp Kiếm Anh dẫn đầu một số đồng chí đến tham gia lớp giảng dạy. Ngày 10-2-1939, Diệp Kiếm Anh lấy một số giáo quan và cán bộ ở Văn phòng Quế Lâm đến Nam Nhạc. Diệp Kiếm Anh giữ chức Phó trưởng ban giáo dục huấn luyện. Khoá thứ nhất khai giảng ngày 15-2-1939, kết thúc ngày 15-5-1939. Khoá thứ hai khai giảng ngày 20-6-1939 và kết thúc ngày 20-9-1939. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia vào cả hai khoá huấn luyện với danh nghĩa công khai: Thiếu tá Hồ Quang, nhân viên điện đài (B.T).

4) Khu mỏ than của tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) (B.T).

5) Cùng với các giáo quan và cán bộ được Đảng Cộng sản Trung Quốc phái đến, đồng chí Hồ Quang ở trong khu vườn cam thuộc một trang trại của địa chủ ở phía tây thị trấn Nam Nhạc. Trong nơi đóng quân có đặt điện đài để nghe tin tức trong nước và thế giới và để liên lạc với Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm (B.T).

6) Ngô Khê Như, một giáo quan được Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đến lớp huấn luyện du kích Nam Nhạc, trong một hồi ký về lớp huấn luyện ấy cho biết:

Qua tập “Bản tin khoá 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích Tây Nam của ban Quân huấn Uỷ ban quân sự được ấn hành hồi đó, có thể đọc thấy những dòng sau về Hồ Quang:

Họ và tên: Hồ Quang

Chức vụ: Thiếu tá, giữ đài lấy tin

Tuổi: 38

Quê quán: Quảng Đông

Đơn vị: Tập đoàn quân 18

Tốt nghiệp trường nào: Đại học Lĩnh Nam

Đã từng làm công tác gì: Giáo viên trung học, Hiệu trưởng Trường Ngoại ngữ (B.T).

7) Hồi ký của Lý Bội Quần viết:

“Vào khoảng tháng 10, tháng 11-1939, tôi lại nhận nhiệm vụ từ Quế Lâm qua Việt Nam đi Hồng Kông. Trước lúc lên đường, đồng chí Lý Khắc Nông gọi tôi lên, nói cho tôi rõ cương vị đích thực của đồng chí Hồ Quang và giao thêm cho tôi một nhiệm vụ nữa là tiện đường dẫn đồng chí Hồ Quang đến Long Châu, bắt liên lạc với người của tổ chức Đảng Việt Nam từ trong nước phái ra tìm đồng chí Hồ Quang. Thế là tôi hộ tống đồng chí Hồ Quang rời Quế Lâm, qua Liễu Châu, Nam Ninh đến Long Châu, suốt dọc đường hết sức cẩn thận. Sau khi đến Long Châu, chúng tôi ở lại một quán trọ nhỏ trên bờ sông. Nhưng chờ mãi ba ngày cũng không thấy có đồng chí đến chắp nối với Hồ Quang, Hồ Quang đành theo đường cũ quay lại Quế Lâm. Còn tôi thì từ Long Châu sang Việt Nam rồi đi Hồng Kông. Lần ấy không giúp đồng chí Hồ Quang chắp nối được với tổ chức, tôi cứ lấy làm tiếc mãi. Đến đầu thập kỷ 60, đọc được bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, tôi mới biết rằng lần đó vì người ở Việt Nam cử sang Long Châu đã bị lừa lấy mất sạch tiền nên đã trở về Việt Nam ba hôm trước khi Hồ Quang và tôi từ Quế Lâm đến được Long Châu” (B.T).

8) Đồng chí Viên Siêu Tuấn, người phụ trách Văn phòng Bát lộ quân ở Quý Dương cho biết:

“Khoảng tháng 12-1938, tôi nhận nhiệm vụ rời Văn phòng Bát lộ quân Quế Lâm, đến Quý Dương, chuẩn bị thành lập Văn phòng Quý Dương. Đầu năm 1939, Văn phòng Bát lộ quân Quý Dương chính thức thành lập. Thu Đông năm đó, đồng chí Hồ Quang đến. Đồng chí trên đường từ Quế Lâm đi Trùng Khánh để gặp các đồng chí ở đoàn đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, đi qua Quý Dương. Sau đó, đồng chí Hồ Quang còn nhiều lần qua lại Quý Dương, lần nào cũng ở tầng trên của nhà Văn phòng chúng tôi. Có lần ở năm ba hôm, có lần ở mươi hôm, nửa tháng. Đồng chí ấy mang theo máy chữ, thường đóng cửa phòng lại đánh máy. Quan hệ giữa đồng chí ấy với các đồng chí trong Văn phòng rất tốt. Đồng chí ấy thường dạy mọi người học ngoại ngữ. Bấy giờ chúng tôi rất gian khổ. Đồng chí Hồ Quang có lúc bỏ ra ít tiền mua thức ăn thêm cùng ăn với chúng tôi. Về sau, sau khi đồng chí Hồ Quang bắt được liên lạc với các đồng chí Việt Nam hoạt động tại Côn Minh, thì đồng chí Hồ Quang và các đồng chí Việt Nam khác càng có nhiều dịp vào ra Văn phòng Quý Dương. Đồng chí Hồ Quang thường nhờ Văn phòng giúp một số việc như chuyển khoản, sắp xếp nơi ăn chốn ở và giải quyết vấn đề giao thông cho các đồng chí Việt Nam qua lại...” (B.T).

9)) Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp có nhiệm vụ đi tìm đón đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Ngày 10-11, hai đồng chí đến Quý Châu, tìm vào Văn phòng của Bát lộ quân, gặp Viên Siêu Tuấn, đồng chí này cho biết: “Đồng chí Hồ Quang đã rời đây đi ba ngày rồi” (B.T).

10) Lúc này, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp đã chia tay nhau được bảy ngày: Phùng Chí Kiên đi Côn Minh, Đặng Văn Cáp ở lại Quý Dương, nhưng vì hôm đó là ngày “hội sư” của Tưởng Giới Thạch với các tướng tá, nên tất cả các ngả đường, đặc biệt là đường từ bến ô tô đến Văn phòng Bát lộ quân đều bị giới nghiêm, không đến gặp được (B.T).

* Năm 1940

NĂM 1940